BA ĐIỀU CĂN BẢN CHO NGƯỜI TU PHẬT
Thích Thanh Từ
Hôm nay chúng tôi xin nói đề tài Ba
điều căn bản của người tu Phật. Vì chúng ta tu Phật phải biết thế nào là cội
gốc, thế nào là ngọn ngành. Ba điều này tôi căn cứ theo kinh Pháp Hoa, nhắc lại
cho quí vị nhớ và thực hành.
Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: “Người
tu Phật phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai.” Chúng ta tu
theo Phật thì phải vào nhà Phật, mặc y Phật và ngồi tòa của Phật. Như vậy mới
trung thành với đức Phật, mới có thể thành công được sở nguyện tu hành của
mình.
Vào
nhà Như Lai là gì? Đức Phật dạy vào nhà Như Lai là thực hành
lòng từ bi. Chúng ta muốn vào nhà Phật phải mở rộng lòng thương đối với tất cả
mọi người. Nếu người tu hành mà không có tâm từ bi thì không phải là đệ tử của
Phật. Cho nên tâm từ bi là bước đầu để đem lợi ích cho chúng sanh. Đó là tâm
nguyện của người Phật tử tu theo Phật. Thế thì thương chúng sanh bằng cách nào
và thương những ai? Tôi sẽ lần lượt dẫn cho quí vị thấy.
Thứ nhất, chúng
ta thương mến những người thân cùng sống chung quanh với mình. Giới xuất gia
thì những người cùng tu trong một viện, một chùa, huynh đệ phải thương nhau,
bảo bọc nhau. Vì sao? Vì tất cả chúng ta cùng một lý tưởng tu hành cầu giải
thoát, cầu giác ngộ. Đã đồng một lý tưởng, vô lý chúng ta lại không thương
nhau? Thương nhau để mà đùm bọc, thương nhau để mà tha thứ cho nhau, đừng làm
phiền lụy, đừng làm khổ đau cho những người chung sống với mình.
Giới cư sĩ tại gia, quí Phật tử phải
thương những người trong gia đình, những người thân tộc của mình, những ai
chung quanh có công, có nghĩa với mình, chúng ta đều thương, đều mến, đừng bỏ
sót người nào, xử sự với tất cả trong tình thương yêu kính trọng.
Thứ hai, nếu là
giới xuất gia, các vị phải thương mến các vị thí chủ đã bỏ công, bỏ của giúp đỡ
chúng ta có phương tiện tu hành. Chúng ta phải nỗ lực tu sao cho đủ phước, đủ
đức để độ những vị đó, không thể thọ nhận của thí chủ rồi ăn chơi vui vẻ qua
ngày. Như thế là phụ ân của đàn-na thí chủ.
Trong kinh Phật thường dạy: Phật
tử cúng dường Tam Bảo giống như người nông phu làm ruộng vậy. Trước hết chúng
ta phải lựa những thửa ruộng phì nhiêu đất tốt để gieo giống. Cũng
vậy, Phật tử cúng dường Tăng Ni cũng phải nghĩ chỗ nào tu hành chân chánh,
những vị tiến lên theo con đường Phật chỉ dạy… đó là những vị gánh vác Phật sự
đáng quí, đáng kính. Gieo giống những thửa ruộng tốt hết rồi mới tiếp theo
những thửa ruộng vừa phải, không tốt lắm và cuối cùng là những thửa ruộng khô
cằn.
Như vậy người tu là người tạo phước
đức cho chúng sanh, nhận của đàn-na thí chủ có nghĩa là chúng ta nhận phần giúp
đỡ bằng vật chất để rồi chúng ta tu, chúng ta sẽ giúp đỡ lại, cứu độ lại phần
tinh thần cho Phật tử. Nên chúng ta thương những vị thí chủ. Nếu là Phật tử tại
gia thì phải thương mến những người có công giúp đỡ cho mình sống, có công đem
lại sự tốt đẹp, an lành cho mình. Luôn nhớ ơn và đền ơn cho xứng đáng.
Thứ ba, thương
tất cả những người còn mê lầm. Chúng ta được phước duyên lớn nên mới xuất gia,
bởi vì xuất gia là đã thức tỉnh, nếu không tỉnh thì mình cứ đi trên đường đời
chớ không trở gót vào chùa đi trên đường giải thoát. Còn người đời vì bận bịu
thế gian, chuyện gia đình thân quyến nên cứ say mê làm ăn cho có tiền của,
không nghĩ tới đạo lý thức tỉnh, nên chúng ta thương xót những người si mê ấy,
làm sao đánh thức để họ tỉnh, như vậy mới tròn bổn phận một người tu. Đức Phật
thường dạy người tu phải có đủ tự giác và giác tha. Nếu chỉ tự giác đó là xong
phần mình nhưng còn phải giác tha nữa, làm sao cho những người chung quanh mình
cùng giác ngộ. Như thế mới tròn bổn phận của một tu sĩ tu Phật.
Với người cư sĩ, quí Phật tử cũng
phải có trách nhiệm vì mình đã biết đạo, đã nếm được mùi vị thâm trầm của Phật
pháp, chúng ta cũng phải đem chia xẻ cho huynh đệ mình cùng hưởng, cùng nếm. Đó
là tinh thần tự giác, giác tha. Tinh thần thương yêu này không riêng gì người
xuất gia mà kể cả người tại gia cũng mở lòng từ bi thương những người mê lầm
hơn chúng ta và cố gắng đánh thức họ cùng tỉnh, cùng tiến tu, cùng hết khổ như
mình.
Thứ tư, từ bi
là thương tất cả chúng sanh từ loài người cho đến loài vật. Vì vậy mùa Vu Lan
Phật tử thường mua chim thả để thể hiện lòng từ bi của mình, nhưng việc làm này
nếu không khéo sẽ trở thành ích kỷ. Vì quí vị nhốt chim trong lồng chờ quí thầy
tụng kinh cầu nguyện cho mình được an vui hạnh phúc rồi mới thả, trong khi mấy
chú chim muốn chết ngộp hết cả. Đó là trái với lòng từ bi, vô tình chúng ta trở
thành ích kỷ là vậy.
Khi đã tu hoặc xuất gia, hoặc tại gia
chúng ta đều mở lòng thương vì người, vì chúng sanh. Đó mới thật là lòng từ bi.
Còn tình thương ích kỷ gọi là lòng thương vị ngã.
Đến phần mặc áo Như Lai. Áo Như Lai là gì? Phật dạy áo Như
Lai là lòng nhu hòa nhẫn nhục. Chữ nhẫn nhục này có nhiều người hiểu theo nghĩa
tiêu cực, cho rằng nhẫn là nhục. Vì nhẫn nên chịu thua, vì thua nên nhục. Nghĩ
như vậy là sai lầm.
Chữ nhẫn trong đạo Phật nghĩa là có
sức chịu đựng, có sức an nhẫn. An nhẫn những điều trái tai, gai mắt, chúng ta
không tức giận, không bực bội. An nhẫn được những sự đòi hỏi, những nhu cầu
thèm khát của thân, chúng ta đều an nhẫn được. An nhẫn được hoàn cảnh khó khăn,
thời tiết nóng lạnh bất thường. Nên chữ nhẫn nhục trong nhà Phật nói lên một
sức chịu đựng mạnh mẽ phi thường. Như có người chọc giận mình, làm trái ý mình
thì chúng ta mạnh mẽ làm chủ, đừng để cơn sân dấy lên, hiện ra ở miệng, ở tay.
Do đó phải có sức chịu đựng cứng cỏi, gan dạ, không thể yếu đuối được.
Kinh Pháp Cú có câu: “Thắng một vạn
quân không bằng thắng mình. Thắng mình mới là chiến công oanh liệt.” Cơn tức
giận dấy lên mà chúng ta thắng được tức là công phu tu hành mạnh mẽ, sức chịu
đựng cứng cỏi chớ không phải tầm thường. Như vậy sao gọi là nhục nhã được!
Thắng được mình còn hơn một ông tướng thắng cả một vạn quân. Người nhẫn nhục
thắng được mình thì đâu phải yếu đuối.
Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta
gặp rất nhiều điều bất như ý. Nếu chúng ta không có sức chịu đựng, không có sức
kham nhẫn thì chúng ta sẽ đau khổ liên miên. Ngược lại chúng ta đủ sức kham
nhẫn chịu đựng thì chúng ta sẽ được an vui tự tại. Vì vậy Phật dạy người tu
phải tập đức nhẫn nhục. Đức nhẫn nhục đã được đầy đủ gọi là mặc áo Như Lai.
Cho nên người tu không nên có thái độ
nóng giận, lúc nào cũng e dè sợ sệt một cơn giận nổi lên. Nó là cái họa lớn,
thiêu đốt công đức bao nhiêu năm tu hành khổ cực của mình. Đức Phật dạy “chỉ
một đốm lửa sân làm cháy cả rừng công đức”. Nếu chúng ta luôn nghĩ tới đạo đức,
nghĩ tới công phu của mình thì phải khéo dè dặt, đừng cho những cơn nóng giận
khởi lên.
Nhẫn nhục có chia làm ba:
Một là nhẫn với người. Đối với
lời nói trái tai, hành động gai mắt hoặc người mắng chửi đánh đập mà chúng ta
nhẫn được, bỏ qua hết, không buồn giận, đó là chúng ta nhẫn nhục với người
khác. Trong kinh A-hàm có câu chuyện ngài Phú-lâu-na xin đức Phật về phương Bắc
giáo hóa:
- Đức Phật hỏi: Này Phú-lâu-na, người
phương Bắc hung hăng lắm, nếu ông về đó giáo hóa họ sẽ chửi mắng ông, ông nghĩ
thế nào?
- Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con, con nghĩ họ cũng còn lương thiện vì chưa đánh đập con.
- Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con, con nghĩ họ cũng còn lương thiện vì chưa đánh đập con.
- Phật nói: Giả dụ họ đánh đập ông
thì ông nghĩ thế nào?
- Ngài thưa: Bạch Thế Tôn, nếu họ
đánh đập con, con nghĩ họ cũng còn lương thiện vì chưa giết con chết.
- Phật bảo: Nếu họ giết ông chết thì
ông nghĩ thế nào?
- Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ
giết con chết thì họ là người ơn của con vì nhờ họ mà con bỏ được cái thân tứ
đại hôi thối này.
- Phật nói: Được. Như vậy thì ông nên đến đó giáo hóa.
- Phật nói: Được. Như vậy thì ông nên đến đó giáo hóa.
Quí vị thấy đức nhẫn nhục của Ngài cỡ
nào? Trong đại chúng, chúng ta chỉ nhẫn nhục các việc nói nặng, nói nhẹ với
nhau thôi, vậy mà có khi chịu không nổi. Còn Ngài bị chửi bới, đánh đập cũng
nhẫn được cho đến giết chết cũng nhẫn luôn, không thù hằn mà còn mang ơn nữa.
Đây là tấm gương cho chúng ta học. Tu là phải như vậy. Đừng nghĩ mình cãi giỏi,
nói hay là tốt. Càng cãi giỏi nói hay, lấn lướt người thì tội lỗi càng tăng chớ
không phải giảm. Đó là phần thứ nhất, nhẫn với người.
Hai là nhẫn với mình. Mình có
gì đâu mà nhẫn. Thật ra là nhẫn với mình rất khó. Nhẫn với mình là nhẫn sự đau
đớn, bệnh hoạn. Có người nào đau bệnh mà không rên không? Đó là cái bệnh. Nên
chúng ta tu phải ẩn nhẫn khi cơ thể bệnh hoạn, đau yếu, phải bình tĩnh cố gắng
hạn chế, đau trăm phần chúng ta chỉ nói đau hai mươi phần thôi. Chớ mỗi lần đau
khóc lên, khóc xuống rên rỉ om sòm cho mọi người chú ý đến mình. Trong đạo như
vậy là kẻ yếu đuối chớ không phải hay.
Kế là nhẫn với sự đòi hỏi của thân,
thèm cái này, muốn cái nọ… những sự thụ hưởng. Như người mới tu chừng một hai
năm, đi ngang qua chỗ nướng thịt cá thì phát thèm. Đó là nhẫn không được nên
khởi niệm bậy. Ẩn nhẫn những thứ thèm muốn, những đòi hỏi của mình gọi đó là
nhẫn với mình.
Như vậy nhẫn nhục là có sức chịu đựng
rất mạnh mẽ cứng cỏi chớ không phải chuyện thường. Đối với những gì mình ưa
thích cũng phải bỏ. Như người xuất gia xem thân này là đãy da hôi thối, vậy mà
lâu lâu cũng có người nhìn mình xem đẹp hay không. Rồi sửa sang chút chút cho
dễ coi. Thậm chí ngày nay tôi nghe nói cũng có kẻ thoa kem cho da mịn. Việc đó
có trái với đạo lý không?
Người tu khi xuất gia, cạo tóc đã tự
nguyện hủy hình thủ khí tiết. Hủy hình là làm cho thân xấu đi. Phụ nữ ngoài
đời, người ta sửa sang mái tóc cho đẹp, cho duyên dáng. Còn người tu đã cạo bỏ
phứt rồi, bây giờ còn muốn thoa môi son hay đánh kem thì coi hết được! Đó là
trái với lẽ thật của mình. Những gì mình ưa thích trái với tư cách của người
tu, trái với bản nguyện của người xuất gia thì chúng ta phải ẩn nhẫn, dẹp nó
qua một bên, đừng để nó lôi kéo mình. Được như vậy mới là người khéo tu. Nếu
không chúng ta sẽ quên đi bản nguyện xuất gia cầu giải thoát ban đầu.
Chẳng những người xuất gia mà hàng cư
sĩ tại gia cũng vậy, thấy điều gì mình thích mà trái với đạo lý thì phải giảm,
phải hạn chế chớ đừng theo nó. Như vậy là biết nhẫn với mình.
Ba là nhẫn với hoàn cảnh, thời tiết. Sống
trong đạo cũng có khi gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn. Trong kinh Phật dạy nơi nào
có Phật pháp, dù cho đói rét cũng phải theo thầy tu học. Còn nơi có gạo dư thừa
mà thiếu đạo đức, cũng nên bỏ mà đi. Như vậy những nơi nào có Phật pháp chúng
ta ở đó gặp hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, nhiều phiền hà, bực bội cũng phải
ráng ẩn nhẫn, vì Phật pháp, vì sự tu chớ không vì sự ăn uống. Người được như
vậy là người chiến thắng bản thân mình, chiến thắng được hoàn cảnh. Rồi còn
phải nhẫn với thời tiết bức bách, chúng ta chịu đựng không than van, vẫn thản
nhiên tự tại. Đó là chúng ta biết nhẫn.
Như vậy người tu muốn mặc áo Như Lai
phải nhẫn nhục, tức là nhẫn với người, nhẫn với mình, nhẫn với hoàn cảnh thời
tiết v.v… Lúc nào cũng chấp nhận khó khăn, không bao giờ chán nản. Người mạnh
như thế mới sống đúng với câu Phật dạy: “Thắng một vạn quân không bằng tự thắng
mình.” Đó gọi là mặc áo Như Lai.
Đến phần ngồi tòa Như Lai là quán tất cả pháp Không. Chúng
ta dùng trí tuệ quán chiếu tất cả các pháp trên thế gian này do nhân duyên hợp
thành, không có chủ thể cố định. Luôn dùng trí tuệ quán sát thấu triệt như vậy.
Ví như nhìn một ngôi chùa, chúng ta
quán xét xem cái gì là chủ ngôi chùa. Trong đó nào là xi măng, cát, đá, ngói,
gạch v.v… tụ hội lại. Chúng ta hiện thấy ngôi chùa như vậy nhưng thật ra đó là
một hợp thể do nhiều thứ hợp lại, thì cái gì là chủ? Không có chủ, cũng không
cố định. Hiểu như vậy thì từ cái nhà, cái bàn cho tới con người của mình cũng
thế, do tứ đại hợp thành nên thân này không thật, cũng không có chủ. Hiểu như
vậy là hiểu được lý Không.
Chúng ta quán sát bằng trí tuệ, thấu
suốt được sự vật bên ngoài đều do nhân duyên hội hợp, không có thật thể cố
định. Do không có thật thể, không cố định nên nói nó không thật. Thấy như vậy
là quán pháp Không. Nói quán pháp Không là nói lý nhân duyên. Nhà Phật nói tất
cả pháp đều từ nhân duyên sanh, nên trong kinh A-hàm có đoạn đức Phật dạy:
“Thấy được lý nhân duyên, tức là thấy được pháp, thấy được pháp tức là thấy
được chân lý.”
Vì trên thế gian này không có vật gì
tự nó thành mà phải do nhiều thứ hợp lại. Tôi thường thí dụ, bàn tay của tôi,
nếu co năm ngón lại thì gọi là nắm tay. Nắm tay này thấy dường như có thật mà
không phải thật. Vì năm ngón co lại, nếu năm ngón buông ra thì còn gì là nắm
tay? Do duyên hợp tạm có, duyên tan trở về không.
Tất cả pháp trên thế gian đều do nhân
duyên sanh, không có chủ thể nên không thật, không cố định. Vì vậy nói là hư
ảo. Trong Trung Quán Luận ngài Long Thọ nói về lý nhân duyên như sau:
Nhân duyên sở sanh pháp
Ngã thuyết tức thị không
Diệc danh vi giả danh
Diệc danh trung đạo nghĩa.
Nghĩa là các pháp do nhân duyên sanh
nên Phật nói tức là không. Tại sao? Vì nó không có chủ thể, đâu có gì là cố
định, duyên hợp thì có, duyên tan thì mất, không thật, nên nói là không. Không
đây là không có chủ thể, không cố định chớ không phải không ngơ, không có gì
hết cả.
Khi duyên hợp thì tạm có giả tướng,
nên nói “diệc danh vi giả danh”. Như nắm tay chưa có bao giờ, chỉ khi co năm
ngón lại mới có nắm tay, như vậy nắm tay là cái giả danh thôi. Nắm tay giả danh
thì bàn tay có giả danh không? Nắm tay chúng ta dễ thấy còn bàn tay hơi khó
thấy hơn. Vậy chúng ta hãy phân tích xem, bên ngoài bàn tay thì có da, trong
năm đốt xương ngón tay có thịt, gân, máu. Phân ra từng món có còn bàn tay
không, có còn từng ngón tay nữa không? Như vậy nắm tay không thật, bàn tay hay
ngón tay cũng không thật, chỉ là giả danh thôi. Nếu chúng ta chấp giả là thật
thì đó là si mê.
Người tu không cho phép mình si mê mà
phải luôn luôn có trí tuệ. Vậy mà lâu lâu, quí cô muốn đeo cái gì đó trên tay
cho đẹp, thì sao? Hiện tướng gì? Phật tử ngoài thế gian si mê đã đành đi, còn
người tu mà si mê như vậy thì không tha thứ được rồi. Đã biết nó không thật, là
giả danh thì còn gì phải trang sức cho đẹp. Thấy được tướng bên ngoài là giả
danh, không phải thật, nên nói “diệc danh trung đạo nghĩa”. Ai thấy được như
vậy, biết được như vậy là hiểu nghĩa trung đạo. Nên chữ Không trong nhà Phật
không phải không ngơ mà đó là không có Thật thể, chỉ là giả danh. Biết rõ như
vậy chúng ta không chấp thật không, cũng không chấp thật có. Đó là thấy được lý
trung đạo. Lý trung đạo là lý thật.
Qua bài kệ này quí vị thấy rõ, chúng
ta tu phải có trí tuệ, phải thấy rõ tất cả các pháp do nhân duyên sanh. Hiểu
như vậy thì hết chấp, mà hết chấp là sáng suốt. Vì vậy người tu Phật phải có
trí tuệ. Nhờ trí tuệ nên thấy đúng như thật, không còn mê, không còn lầm lẫn
say mê vật chất thế gian, không chạy theo những ảo tưởng giả dối, có thế mới
thật là người học đạo.
Vì người học đạo là người đi tìm chân
lý, tìm lẽ thật. Nếu hiểu sâu xa cùng tột đạo lý của Phật thì đối với thân này
được cũng không mừng, mất cũng không buồn, vì nó tạm bợ giả dối do duyên hợp.
Kinh Bát-nhã, Phật dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”
Nghĩa là thấy năm uẩn không thật, duyên hợp hư ảo liền qua hết khổ nạn. Đó là
trí tuệ.
Quí vị xét chỉ cần ba điều Phật dạy
trong kinh Pháp Hoa, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành thì đã giải thoát sanh
tử chưa? Cho nên chúng ta khéo ứng dụng theo lời Phật dạy thì chúng ta sớm được
an lành, sớm được giải thoát. Hiện nay Phật tử chúng ta thích tụng kinh Pháp
Hoa lắm, nhưng tụng để hiểu như tôi nói hay tụng để tính quyển? Nếu tụng để
tính quyển chớ không ứng dụng theo lời Phật dạy thì đúng là tu Pháp Hoa chưa?
Lời Phật dạy như vàng ngọc, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành, ứng dụng vào
cuộc đời thì quí vô kể.
Nhưng đáng tiếc Phật tử không biết
đúng, chỉ nghĩ tụng kinh cho có phước. Nên lúc nào làm ăn sơ thất liền phát
nguyện đi chùa tụng kinh Pháp Hoa để cầu phát tài. Như vậy tụng Pháp Hoa để tìm
chân lý hay vì lợi dưỡng. Quí Phật tử tự kiểm lại xem mình ở dạng nào? Thế nên
Tăng Ni cũng như tất cả Phật tử chỉ cần chân thành ứng dụng lời Phật dạy vào
cuộc sống hằng ngày của mình thì chắc chắn sớm được hết khổ đau trong đời này
và giải thoát sanh tử ở những đời sau.
Tóm lại tất cả người tu chúng ta dù
xuất gia hay cư sĩ đều phải đủ ba đức tánh này, mới gọi là người chân chánh tu
Phật. Đó là vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai. Phật tử là con
cháu của Phật nên mới dám vào nhà Phật, dám mặc áo Phật, dám ngồi tòa Phật. Nếu
không dám vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật thì chừng nào thành Phật tử!
Con Phật mà không dám vào nhà Phật thì còn gọi là con Phật không? Vì vậy ai là
con Phật, ai là người đệ tử trung thành của Phật phải đủ ba điều kiện trên.
Được vậy chúng ta mới kế thừa địa vị của Như Lai, không nghi ngờ.
Đó là điều tôi nhắc nhở tất cả Ni
chúng cũng như tất cả Phật tử hôm nay ráng học, ráng tu, làm sao chúng ta tu
học đúng với ý nghĩa là người con chân chánh của Phật, người xuất gia chân
chánh, đừng để lệch lạc sai lầm uổng một đời, sau này hối hận không kịp ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét