HẠNH BỐ THÍ
Tỳ kheo THÍCH CHÂN TUỆ
Trong vô lượng pháp môn tu theo đạo
Phật, bố thí là hạnh tu chủ yếu mà mười phương chư Phật… Chư
vị Bồ Tát dạy chúng ta thực hành, để đem lại ích lợi, đem lại an lạc cho tất cả
chúng sanh, ngay trên thế giới Ta-bà này. Bố thí là hạnh tu hàng đầu trong “Lục
Độ Ba La Mật”, gồm có: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí
tuệ. Bố thí cũng là hạnh tu hàng đầu trong “Tứ Nhiếp Pháp”, gồm có: bố thí, ái
ngữ, lợi hành và đồng sự. Người tu tâm dưỡng tánh theo đạo Phật, cần nên biết
một cách rõ ràng về hạnh bố thí, để thực hành đúng theo Chánh Pháp, để thực
hành một cách liên tục, một cách hoan hỷ, để được phước báu vô lượng vô biên,
để đem an lạc và hạnh phúc cho mình và cho mọi người.
Trước hết, bố thí có nghĩa là cho một
cách rộng rãi. Cho một cách rộng rãi có hai nghĩa: một là, cho tất cả mọi thứ,
đến tất cả mọi người; và hai là, cho với tất cả tấm lòng rộng rãi, không kỳ
thị, gọi là “bất tùy phân biệt”. Chúng ta sống trên thế gian này gặp nhiều
phiền não và khổ đau, từ nhiều nguyên do, trong đó lòng tham lam là yếu tố hàng
đầu. Do lòng tham lam, ích kỷ, con người không bao giờ thấy đủ, luôn luôn nghĩ
đến bản thân mình.
Có được chín đồng con người cố gắng
kiếm thêm cho đủ mười đồng, để dành khi hữu sự cần đến, hay để dưỡng lão mai
sau. Đến khi đã được chín trăm ngàn rồi, con người vẫn cố làm việc, cố dành
dụm, cố đấu tranh, cố giành giựt, bất chấp thủ đoạn, để có nhiều thêm nữa, để
thành triệu phú, dù rằng lúc đó tuổi tác đã già nua, gần đất xa trời, vẫn không
thức tỉnh. Đó là lòng tham lam tiền tài, của cải.
Lòng tham danh, háo danh cũng thúc
đẩy, sai khiến nhiều ông bà già tiếp tục bon chen trên đường đời, tiếp tục giở
những thủ đoạn bất chánh bất lương, những tuyệt chiêu điêu luyện, những kinh
nghiệm hại người, để đoạt cho kỳ được, giữ cho thực lâu, các chức vụ hay danh
vị nào đó, trong các tổ chức bất vụ lợi trá hình, đôi khi đó chỉ là các chức
dỏm, danh hàm, danh hão mà thôi, chẳng có chút giá trị nào cả.
Lòng tham lam luôn luôn thúc đẩy con
người đấu tranh, giành giựt, bất chấp thủ đoạn, thì làm sao cuộc sống thực sự
được an lạc và hạnh phúc? Người hiểu hai chữ “tri túc” là người biết an phận
với những gì đang có, biết cần kiệm, biết sống một cuộc sống đơn giản, an nhàn,
trong sạch, thanh bạch, chính là người được an lạc và hạnh phúc lớn nhất trên
đời. Nếu chúng ta không có những gì mình thích, thì chúng ta hãy thích những gì
mình đang có. Được như vậy, cuộc đời đâu còn gì gọi là khổ đau.
Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy:
Tri
túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc. Bất tri túc giả thân xử thiên
đường diệc bất xứng ý. Nghĩa là người biết thế nào là đủ, tuy nằm trên
đất cũng thấy an vui hạnh phúc. Người không biết thế nào là đủ, tuy thân xác ở
trên cảnh giới thiên đường, tâm ý vẫn không thỏa mãn!
Sách cũng có câu:
Tri
túc tiện túc đãi túc hà thời túc. Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn. Nghĩa là nếu
biết thế nào là đủ thì tức thời thấy đủ, biết thế nào là nhàn thì tức thời thấy
nhàn. Như vậy đầy đủ và an nhàn thực ra rất cần thiết, rất quan trọng cho cuộc
đời, nhưng chúng ta không bao giờ đạt được đầy đủ và an nhàn, nếu không chịu
“biết đủ, biết nhàn”. Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy pháp bố thí, để dẹp bớt, để
dứt trừ lòng tham lam, ích kỷ, đòi hỏi, bỏn sẻn, keo kiệt, bần tiện của con
người. Hạnh bố thí gồm có ba thứ: tài thí, pháp thí và vô úy thí.
1) Tài thí: Về tài
thí có hai phần: nội tài thí và ngoại tài thí. Chúng ta có thể cho những gì bên
ngoài thân thể, như là tiền bạc, của cải, cơm gạo, quần áo, thuốc men, vật chất
nói chung, gọi là “ngoại tài thí”. Khi thực hành ngoại tài thí, chúng ta cần
chú ý các yếu tố đúng người, đúng thời và đúng lượng. Chẳng hạn, người nào cần
tiền bạc, chúng ta giúp tiền bạc, người nào cần thuốc men, chúng ta giúp thuốc
men và chỉ giúp lúc cần thiết, với số lượng hợp tình, hợp lý mà thôi. Nhiều khi
giúp đỡ tiền bạc quá nhiều, có thể làm cho người nhận sanh tâm ỷ lại, sanh lòng
lười biếng, không thích làm việc, không chịu cực khổ, không kham nổi những khó
khăn trong cuộc sống, chỉ biết nằm chờ viện trợ từ kẻ khác mà thôi. Nhiều khi
giúp đỡ tiền bạc có thể đưa đến chuyện hại người, nếu chúng ta không biết người
nhận sẽ xử dụng số tiền đó với mục đích sai lạc, mục đích xấu.
Chúng ta có thể đem cho những gì
thuộc về thân thể, thân mạng của mình, các bộ phận trên cơ thể như: mắt, tim,
gan, phèo, phổi,... gọi là “nội tài thí”. Điều này khó thực hiện được khi còn
sống, nhưng chúng ta có thể làm được khi vừa mới tắt thở. Có rất nhiều người dù
không theo đạo Phật, không hiểu giáo lý đạo Phật, nhưng họ đã ký sẵn giấy cam
đoan cho các bộ phận trên cơ thể, hoặc cho luôn thân xác của họ, cho bất cứ ai
cần đến, hoặc cho các viện nghiên cứu, để giải phẫu, học hỏi, tìm hiểu, ngay
khi họ vừa mới tắt thở. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng, trong tận cùng thâm
tâm của mỗi con người, “thiện tâm” đều giống nhau, ai ai cũng có, không phân
biệt con người theo bất cứ tôn giáo nào trên thế gian này.
Ngày nay, chúng ta ít người thực hành
nổi hạnh bố thí thân mạng như người xưa, nhưng chúng ta có thể dùng thân mạng
để làm những việc ích lợi cho người, như công quả trong chùa, góp công sức
trong các cuộc lạc quyên cứu giúp người gặp nạn bão lụt, gặp hỏa hoạn, làm việc
thiện nguyện giúp người khó khăn, khốn khổ. Thực ra, từ xưa đến nay, trên thế
gian này, có biết bao nhiêu người sẵn lòng xả thân cứu người, nhiều khi gặp
hiểm nguy đến tánh mạng. Đó cũng gọi là nội tài thí.
2) Pháp thí: Về pháp
thí có hai nghĩa: một là, đem cho tất cả mọi việc, đem cho tất cả các pháp trên
thế gian này, và hai là, đem cho giáo pháp của Phật, còn gọi là Phật Pháp.
Chúng ta có thể cho tất cả những gì không thuộc phần nội tài thí và ngoại tài
thí nói trên. Chẳng hạn như chúng ta có sở học, có kiến thức, có sự hiểu biết
về một vấn đề nào đó, về một phương diện nào đó, về một ngành nghề nào đó,
chúng ta có thể đem ra chỉ bảo, hướng dẫn, truyền dạy, giúp đỡ cho người, một
cách bất vụ lợi, không mong cầu báo đáp, không kể lể ơn nghĩa. Việc này bất cứ
ai cũng có thể làm được, không tốn đồng xu cắc bạc, chỉ cần tấm lòng vị tha,
chỉ cần tấm lòng thực sự “vì người quên mình” mà thôi.
Đối với hàng tu sĩ xuất gia, hay cư
sĩ tại gia, có học hiểu và thực hành giáo pháp của Phật, đem ra giảng giải cho
mọi người được biết, để áp dụng, để xây dựng cuộc sống an lạc và hạnh phúc hiện
đời, giúp mọi người hiểu được chân lý, để giảm bớt phiền não và khổ đau. Theo
nghĩa này, pháp thí là điều quan trọng hơn cả. Tại sao vậy? Bởi vì, khi chúng
ta giúp người về vật chất, như tiền bạc, cơm gạo, có thể làm cho người được qua
cơn khó khăn trong ngắn hạn, trong một thời gian nào đó mà thôi. Khi chúng ta
giúp người về tinh thần, như dạy chữ, dạy nghề, hướng dẫn cách sống đúng phép
vệ sinh chẳng hạn, có thể làm cho người được qua cơn khó khăn, trong một thời
gian nào đó, thậm chí có thể giúp họ sống vui, sống khỏe trọn một đời này mà
thôi.
Còn nếu chúng ta có học hiểu và thực
hành giáo pháp của Phật, còn gọi là Phật Pháp, đem ra giảng giải cho mọi người
được biết, để áp dụng trong cuộc sống, chẳng những có thể giúp con người sống
an lạc và hạnh phúc ngay hiện đời, ngay kiếp này, cao hơn nữa là giúp con người
được giác ngộ và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi khổ đau, vĩnh viễn muôn
kiếp. Bởi vậy cho nên, Đức Phật dạy hàng Phật Tử tại gia “pháp cúng dường” chư
Tăng Ni, để các vị xuất gia không phải lo chuyện sinh sống, yên tâm tu hành
thanh tịnh, chuyên tâm nghiên cứu kinh điển, rồi đem ra giảng giải cho mọi
người được biết, được hiểu một cách rõ ràng, để áp dụng tu hành theo đúng Chánh
Pháp. Pháp cúng dường như vậy là thanh tịnh nhất, dành cho các bậc chân tu
thanh tịnh. Đó là một dạng khác của sự bố thí.
Tuy nhiên, không phải giáo pháp luôn
luôn cần hơn cơm gạo, hoặc ngược lại, không phải cơm gạo luôn luôn là ưu tiên
hàng đầu trong cuộc sống. Trong kinh sách, gọi đó là “tùy duyên”, nghĩa là tùy
theo trường hợp, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo con người. Trong một buổi Đức
Phật thuyết pháp, có một người nghèo khó đến dự. Đức Phật liền bảo dọn cơm cho
người đó ăn, xong rồi mới giảng pháp cho nghe sau. Khi nghe xong thời pháp đó,
người nghèo khó ngộ đạo, chứng ngay quả tu đà hoàn, phát tâm qui y Tam Bảo.
Do đó, ngày nay chúng ta có câu “có
thực mới vực được đạo”, nghĩa là phải được tạm no lòng, mới hy vọng hiểu được
đạo lý cao siêu. Chúng ta không thể đem giáo pháp cao siêu ra giảng dạy cho
những người đang đói khổ, đang cần cơm gạo trước hết. Cũng như không thể đem
giáo pháp tối thượng dạy ngay cho người sơ cơ, mới học đạo. Nhu cầu tại thế
gian của con người đi từ vật chất đến tinh thần, rồi sau đó mới bàn đến chuyện
tâm linh xuất thế gian.
3) Vô úy thí: Về vô
úy thí thì có nhiều nghĩa rộng rãi, cao siêu hơn. Vô là không, úy là sợ, thí là
cho. Vô úy thí là đem cho sự không sợ hãi. Hay nói cách khác, vô úy thí là làm
sao giúp đỡ cho con người bớt sự lo âu, giảm thiểu phiền muộn, hay không còn sợ
hãi. Con người sống trên thế gian này có rất nhiều điều lo lắng, âu sầu, phiền
muộn, hay sợ hãi. Nào là sợ thiếu tiền, sợ thiếu ăn, sợ thiếu mặc, sợ bệnh
hoạn, sợ thiên tai, sợ mất công ăn việc làm, sợ mất hạnh phúc gia đình, sợ
đủ-mọi-thứ-chuyện trên trần đời.
Nhưng nỗi lo sợ lớn nhất của con
người chính là sợ chết! Tự cổ chí kim, từ người nghèo hèn cho đến người sang
trọng, từ người bình dân cho đến người học thức, từ người trẻ cho đến cụ già,
từ người thường dân cho đến vua quan hay hàng quí tộc, từ giới phàm phu tục tử
cho đến các bậc hiền triết thánh nhân, nào có ai tránh được cái chết đâu, mặc
dù con người vốn tham sinh úy tử, ham sống sợ chết!
Con người thường hay nghĩ “đời còn
dài”, cho nên chỉ bận tâm đến chuyện mưu sinh, chuyện tranh danh đoạt lợi,
chuyện đấu tranh tranh đấu, chuyện hơn thua thị phi, đúng sai phải quấy, đủ thứ
chuyện linh tinh lang tang. Đến khi sắp từ giã cuộc đời, mới giựt mình tỉnh
giấc, thì đã quá muộn màng! Thực ra, con người có thể chết bất cứ lúc nào, bất
cứ cách nào, bất cứ nơi nào. Vô úy thí có nghĩa là giúp người qua cơn sợ hãi
mọi thứ, bớt sự lo lắng mọi điều, trong tâm trí, qua các biến cố, trước các
điều hiểm nguy, và còn có nghĩa là: chúng ta không nên gây não phiền, không nên
gây bực dọc cho bất cứ ai, để yên cho mọi người được sống cuộc đời an vui, yên
ổn, dù cho họ là người thân hay kẻ thù. Đó chính là tâm lượng “bất tùy phân
biệt”.
Còn đối với sự sợ chết, chúng ta
khuyến hóa mọi người tu hành, cầu đạo giải thoát. Bởi vì chỉ có giáo pháp của
Đức Phật mới có thể chỉ bày cho con người hiểu rõ ràng, tường tận “pháp vô
sanh”, tức là chỉ dạy đường lối tu hành để giải thoát khỏi mọi thứ phiền não và
khổ đau, không còn sanh tử luân hồi nữa. Đạo Phật không phải chỉ có hình thức
cúng kiến, lễ lạy, cầu nguyện mà thôi. Thực hành hạnh vô úy thí còn có nghĩa là
giúp chúng sinh khắc phục tư tưởng khiếp nhược, sợ hãi, tự ti mặc cảm yếu hèn,
giúp chúng sinh hiểu được điều Đức Phật giác ngộ dưới cội cây bồ đề và giảng
dạy trong tam tạng kinh điển. Điều đó chính là: Tất cả chúng sanh ai ai cũng
đều có Phật Tánh như nhau, tất cả đều bình đẳng, và tất cả chúng sanh đều sẽ
thành Phật, giải thoát mọi khổ đau phiền não, nếu biết tu tập thực hành đúng
Chánh Pháp.
Trong các kinh điển Phật giáo, đó là
bốn bước: khai, thị, ngộ, nhập. Nghĩa là Đức Phật khai mở cánh cửa giải thoát,
chỉ thị cho con người thấy được, hiểu được thế nào là pháp vô sanh. Sau đó,
giúp cho con người làm sao giác ngộ được pháp vô sanh và chỉ rõ đường lối tu
hành làm sao chứng nhập được pháp vô sanh. Đó chính là “con người chân thật bất
sanh diệt” của tất cả chúng ta, chứ chúng ta không phải là cái xác thân giả tạm
đang có này. Chúng ta cần nên biết rằng: Con người sở dĩ sợ chết, bởi vì con
người sợ mất cái thân tứ đại mấy chục ký lô giả tạm này, cứ tưởng đó là mình,
mà không hề biết mình có cái không hề chết, không hề bị diệt mất, cái đó chính
là “con người chân thật bất sanh diệt” của tất cả chúng ta vậy.
Chúng ta biết rằng khi thọ hưởng một
tài sản hay của cải, vật chất nào, không nên chỉ dùng cho riêng mình. Chúng ta
nên bố thí ra, chia xẻ với mọi người, để tạo an vui cho những người chung quanh
và cũng tạo an vui cho chính chúng ta nữa. Cái gì chúng ta ăn, chỉ được nhứt
thời. Cái gì chúng ta tích trữ, dành dụm, chỉ được nhứt đời mà thôi, chắc chắn
chúng ta sẽ bỏ lại tất cả khi ra đi. Nhưng tất cả những gì chúng ta cho ra,
những gì chúng ta bố thí, sẽ trở lại với chúng ta, dưới dạng phước báo, quả báo
lành, sự bình an, sự may mắn, giúp chúng ta được tai qua nạn khỏi. Chứ thực sự
không có chúa trời, không có ngọc hoàng thượng đế hay đức Phật nào, vì lòng
riêng tư, mà đến cứu giúp, theo lời van xin cầu khẩn của chúng ta cả.
Nói cách khác, cái gì chúng ta đã
tiêu xài, bây giờ không còn nữa. Cái gì chúng ta đã mua sắm, bây giờ phải để
lại cho người khác, khi ra đi. Chỉ có cái gì chúng ta “đã cho, đã bố thí” với
lòng từ bi, là vẫn còn “thuộc về chúng ta” khi từ giã cõi đời. Đó chính là
nghiệp lành, là phước báo, là quả báo tốt, là sự may mắn, luôn luôn theo cùng
với chúng ta như hình với bóng. Danh ngôn Tây phương cũng có câu: “If you
continually give, you will continually have”.
Trong Kinh Địa Tạng, phẩm thứ mười,
khi Bồ Tát Địa Tạng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính và bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, con xem chúng sanh
trong nghiệp đạo, so sánh công đức bố thí, hiệu quả có sự nhiều ít khác nhau,
có người được hưởng phước một đời, có người được hưởng phước mười đời, có người
được hưởng phước hàng trăm, ngàn đời, lợi lạc lớn lao. Tại sao như thế, cúi xin
đức Thế Tôn từ bi giảng trạch cho chúng con được biết”.
Đức Phật dạy tóm lược như sau:
“Bất cứ ai gặp những người già yếu,
bần cùng, hèn mạt, tàn tật, câm ngọng, đui mù, ngây điếc, không được toàn vẹn,
mà tự tay đem bố thí với lòng từ bi, thương xót, dùng lời mềm mỏng an ủi họ tử
tế, khiến cho họ được an ổn, vui vẻ, thì được hưởng phước báo vô lượng. Tuy
nhiên, nếu làm được những việc thiện như thế mà đem hồi hướng cho pháp giới
chúng sanh thì những người làm công đức ấy được hưởng những sự vui sướng nhiệm
mầu hàng trăm ngàn đời, nếu đem công đức ấy hồi hướng cho quyến thuộc nhà mình,
hay muốn tự mình hưởng những lợi ích, thì ba đời được vui vẻ, làm một phần thì
được hưởng vạn phần”.
Tại sao vậy? Bởi vì những người làm
phước đó đã phát tâm rộng lớn đem “hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh”,
không cứ công đức ít nhiều, không dành riêng cho mình và người thân của mình,
đó chính là những người đã “diệt được lòng tham”, cho nên được sự “giải thoát
hoàn toàn”, cho nên được hưởng quả “phước báo lớn lao” như vậy. Còn những người
chỉ phát tâm hạn hẹp, chỉ muốn đem công đức ấy hồi hướng cho người thân, hay
cho chính mình mà thôi, họ sẽ được hưởng quả phước báo hạn chế hơn, tùy theo
tâm lượng còn nhỏ hẹp của chính mình.
Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
“Nhược
Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ hành ư bố thí. Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ
thinh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng.
Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng”. Nghĩa là nếu
chúng ta không chấp bốn tướng: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, và không chấp
sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà thực hành hạnh bố thí, thì phước
đức không thể nghĩ, không thể lường được.
Không
chấp bốn tướng: ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả, có nghĩa là khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta không nên
thấy có mình là người cho, để cầu mong được báo đáp, được cám ơn, được tán
thán, chúng ta không nên thấy có người nào là kẻ nhận sự bố thí đó, để kể lể
chuyện ơn nghĩa, chúng ta không nên thấy có bao nhiêu người đã nhận sự bố thí
đó, để khoe khoang, và chúng ta cũng không nên thấy có vật gì, điều gì đã được
đem cho, để khỏi tiếc nuối về sau, có khi tiếc của, muốn đi đòi lại! Nếu được
như vậy, sau khi thực hành hạnh bố thí, chúng ta sẽ an trụ được tâm của chúng
ta. Chúng ta sẽ không bực dọc khi gặp những người bội bạc, không biết ơn, thậm
chí còn trở mặt với chúng ta nữa. Lòng từ bi của chúng ta cũng không bị hạn
chế, khi không còn nhớ là đã bố thí bao nhiêu tiền của, đã bố thí cho bao nhiêu
người, đã dành bao nhiêu thời giờ để làm hạnh bố thí đó.
Muốn hàng phục được tâm ý của chính
mình, chúng ta phát nguyện độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào
được độ. Bố thí xong rồi thì thôi, đừng nhớ nghĩ gì nữa. Khi chúng ta xả bỏ
được hết tất cả vọng niệm, tức là chúng ta đã thực hành hạnh bố thí ở mức độ
cao nhất, mà ít người hiểu được. Hàng phục được tâm ý của chính mình thì mau
tiến đến chỗ giải thoát, cho nên Đức Phật dạy phước đức không thể nghĩ, không
thể lường được, chính là nghĩa đó vậy.
Không
chấp sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà thực hành hạnh bố thí,
có nghĩa là chúng ta không chấp vào sắc tướng dễ nhìn hay khó nhìn, không chấp
vào âm thanh dễ nghe hay khó nghe, không chấp vào mùi hương dễ ngửi hay khó
ngửi, không chấp vào mùi vị dễ nếm hay khó nếm, không chấp vào xúc chạm dễ chịu
hay khó chịu, không chấp vào sự việc, ý tưởng vừa ý hay không vừa ý, thích hay
không thích, ưa hay ghét. Sở dĩ tâm ý của chúng ta thường hay loạn động, bởi vì
chúng ta thường hay dính mắc với sáu trần. Hễ mắt thấy bất cứ sắc gì thì liền
khởi vọng niệm phê phán đẹp hay xấu, hễ tai nghe bất cứ tiếng gì thì liền khởi
vọng niệm phê phán êm dịu hay chát chúa, hễ mũi ngửi bất cứ mùi gì thì liền
khởi vọng niệm phê phán thơm quá hay thúi quá, hễ lưỡi nếm bất cứ vị gì thì
liền khởi vọng niệm phê phán ngon quá hay dở quá, hễ thân xúc chạm bất cứ vật
gì thì liền khởi vọng niệm phê phán mát mẻ mịn màng hay nhám nhúa nhơ nhớp, hễ
ý nhớ tưởng bất cứ chuyện gì thì liền khởi vọng niệm phê phán hài lòng hay bực
bội. Cứ như thế, cả ngày, suốt tháng, quanh năm, tâm của chúng ta luôn luôn bất
an, loạn động.
Chúng ta thực hành hạnh bố thí còn có
nghĩa là chúng ta buông xả hết các vọng niệm, các tạp niệm, để an trụ tâm, để
thanh tịnh tâm thì mau tiến đến chỗ giải thoát. Cho nên Đức Phật dạy thực hành
được hạnh bố thí như vậy, thì phước đức không thể nghĩ, không thể lường được.
Chúng ta thực hành hạnh bố thí với tấm lòng rộng rãi, với tất cả tấm lòng “vì
người quên mình”, với tất cả tấm lòng từ bi, cung kính, không cầu danh lợi,
không cầu báo đáp, không vì hơn thua, không mê hoặc lòng người, không chọn lựa
món xấu đem cho, món tốt giữ lại, tức là không trụ sắc; cho rồi không cần nghe
lời khen, tiếng cám ơn, tức là không trụ thinh, v.v.. và của đem bố thí phải
thanh tịnh, chơn chánh; người nhận bố thí phải được tôn trọng, bình đẳng, phải
được cám ơn!
Đó chính là sự bố thí thanh tịnh,
trong sáng, “bất tùy phân biệt” nam phụ lão ấu, người tu hay người đời, đẳng
thí vô sai biệt, phổ đồng cúng dường, thượng cúng thập phương chư Phật, chư
hiền thánh nhân, hạ cập lục đạo phẩm, cho nên đem lại phước báo vô lượng vô
biên, cho nên trong kinh sách gọi là “bố thí ba la mật”. Tại sao chúng ta phải
tu hạnh bố thí? Chúng ta tu hạnh bố thí là kiến tạo một kho tàng phước báu, là
tu tập nghiệp lành. Bố thí tiêu trừ đau khổ, làm cho tâm trí được an vui, thảnh
thơi, hạnh phúc. Tu hạnh bố thí được người thương mến, dễ thu phục lòng người,
phát triển lòng từ bi. Tu hạnh bố thí là gốc rễ của tất cả các thiện pháp. Bố
thí là pháp tu, hạnh tu mà những người kém phước đức và trí huệ cần noi theo. Chư vị hiền thánh nhơn kim cổ đều trải qua các hạnh tu bố
thí.
Tóm lại, nhờ tu hạnh bố thí chúng ta
diệt được lòng tham lam ích kỷ ở tự tâm, thể nhập tự tánh bình đẳng, đại từ đại
bi, đem lại sự no ấm, thoát khổ đặng vui, đều nhờ công năng tài thí. Chúng ta
cũng có thể phát triển chánh trí, phá trừ vô minh, si mê, thể nhập chân lý, đem
lại bình tĩnh, cởi mở sự lo buồn sợ hãi, khiến chúng sanh được sống thanh thản,
tự tại, đó là nhờ công năng của pháp thí và vô úy thí.
Hạnh bố thí là nền tảng của các
nghiệp lành, nghiệp thiện, giúp con người sống trong chánh đạo, dẹp bỏ được tam
độc: tham lam, sân hận, si mê. Pháp môn này, nói chung, mọi người ai ai cũng có
thể thực hành được, nhưng muốn thực hành cho đến mức độ cao thâm, rốt ráo tột
cùng, gọi là “ba la mật”, chúng ta phải phát tâm bồ đề kiên cố, dũng mãnh, bất
thoái chuyển, tức là phát tâm lượng của các bậc Bồ Tát và Đại Bồ Tát vậy./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét