|
|
CHỨNG ĐẠO
CA
Trực chỉ
đề cương
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 (2543)
Nguyên tác: Huyền Giác Thiền Sư
Biên dịch: Từ Thông Thiền Sư
Sài Gòn 1998 (2543)
Mục lục
Thi ca 53 Cái thấy của người chứng đạo
địa vị Phật là địa vị một Pháp vương không là đấng siêu nhiên, siêu nhân, toàn
năng
CHỨNG ĐẠO CA là tác phẩm
thi ca được viết ra, nói lên trình độ nhận thức chân lý, khả năng thiền quán tư
duy, sâu sắc của tác giả đối với chánh pháp liễu nghĩa thượng thừa của đạo
Phật. Tác phẩm có năm mươi sáu thi ca, gồm hai trăm tám mươi tám câu. Mỗi thi
ca là một "ngọn đèn pha" cực mạnh quét sạch hết những bóng đêm tà
kiến. Mỗi câu là một làn gió nhẹ, vừa mát mẻ, vừa thổi tan những đám mây mù
huyễn hoặc, vu vơ, cho bầu trời chân lý hiển lộ lồng lộng, một màu trong xanh
ngăn ngắt.
Tư tưởng ở nội dung, ngữ ngôn văn
tự qua hình thức đáng được tôn vinh là khúc ca CHỨNG ĐẠO của con người CHỨNG
ĐẠO. Do vậy, tác phẩm có cái nhan đề CHỨNG ĐẠO CA, thiết tưởng không phải là
ngôn từ cường điệu.
Tác giả CHỨNG ĐẠO CA là Huyền Giác
Thiền Sư. Sử sách Phật giáo Trung Hoa không nói nhiều về tông chi gia phả, chỉ
nói Sư là con của gia đình họ Đới, sanh vào năm 665 và mất năm 713 đời nhà
Đường. Quê của Sư ở huyện Vĩnh Gia, xưa thuộc châu ÔN, nay là tỉnh Chiết Giang
ở Trung Quốc. Sư xuất gia vào tuổi ấu niên, tư chất thông minh, ham tu hiếu
học, đọc nhiều kinh điển Phật đến độ tinh thông. Những kinh điển thuộc hệ tư
tưởng liễu nghĩa thượng thừa như Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Phương Quảng Viên
Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa, Kinh
Niết Bàn… Sư vận dụng một cách vô cùng thông minh, tài tình và "lợi hại"
trong việc "công phá" tà kiến ngoại lai, hiển dương chánh pháp Đại
thừa, mở đường chỉ lối cho những ai chủng tánh Đại thừa muốn đi con đường
"đại ngộ".
Bỉ nhân tôi, là một hậu học vô lậu
quả văn, hữu duyên được nghiền ngẫm tác phẩm CHỨNG ĐẠO CA. Khi đọc tôi cảm nghe
như thân tâm bay bổng ra khỏi hết mọi vướng mắc ở cõi đời, mà từ lâu mình lầm
lạc, tự trói thân để chịu cực nhọc, tự quản thúc tâm để ưu tư, sợ hãi triền
miên. Tâm đắc sâu đậm, sung sướng tràn dâng, tôi phấn đấu vượt trở ngại:
"mắt mờ". Thị lực yếu, tôi vẫn quyết chí dịch tác phẩm CHỨNG ĐẠO CA
từ Hán văn ra Việt văn bằng thể văn có âm điệu và tiết tấu để đọc cho dễ nhớ.
Rồi sau đó, viết phần TRỰC CHỈ để bình thêm…
CHỨNG ĐẠO CA là một tác phẩm văn
học của Phật giáo Trung Hoa và cả Phật giáo Việt Nam nữa.
CHỨNG ĐẠO CA là một giáo án, tôi
soạn để giảng cho Tăng Ni sinh các trường, lớp Cao Đẳng Nội Minh.
CHỨNG ĐẠO CA là tiếng sấm long trời
để đánh thức những ai mệnh danh là đệ tử Phật mà mãi li bì, ngủ say sưa trong
mộng mị mê tín, hoang đường.
CHỨNG ĐẠO CA là ngọn đuốc thiêng
bất diệt dành cho những chủng tánh Đại thừa tiến bước trên lộ trình đại ngộ.
Viết
tại THAO HỐI AM.
Ngày
Rằm tháng 7 năm Đinh Sửu
1997
(2541)
Dịch
giả
Cẩn bút
THI
CA 1
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
Phiên âm:
QUÂN BẤT KIẾN!
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tường bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thủy bào hư xuất một.
Dich
nghĩa:
Ai có
biết!
Bậc tuyệt học vô vi nhàn đạo
Vọng không trừ, tưởng chẳng cầu chân
Tánh của vô minh và Phật tánh không hai
Phật tánh ấy chính là thật tánh của Vô Minh
đấy!
Thân
ảo hóa với Pháp thân cũng vậy
Ảo hóa thân là hiện tượng của Pháp thân
Biển Pháp thân ví: bản thể vô cùng
Thân ảo hóa tựa sóng mòi lao xao trên mặt
nước
Nhận
thức rõ hai thân pháp hóa (1)
Chợt tỉnh ra rằng: "vạn pháp giai
không"
Tánh thiên chân là thật tánh của mình
Mình là Phật vốn là thiên chân Phật
Thân
ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng
Nó hiện hữu với thời gian vô tận
Gọi
tam độc thực tánh không hề độc
Ví như bọt bèo, sanh diệt huyễn hư
Hễ u mê thì tam độc hoành hành
Bằng tỉnh thức, không sao tìm được chúng.
TRỰC
CHỈ
Đi con đường Đạo, thường phải qua ba giai đoạn. "Học
đạo", Hành đạo" và "Chứng đạo". Đến giai đoạn CHỨNG ĐẠO,
được gọi là con người "nhàn đạo". Người "nhàn đạo" là người
đã vượt qua giai đoạn "học đạo" và "hành đạo". Vì vậy,
người "chứng đạo" còn được gọi là người TUYỆT HỌC, là người đạt đến
VÔ VI, cho nên bậc TUYỆT HỌC, VÔ VI, NHÀN ĐẠO tức là con người CHỨNG ĐẠO.
Cái thấy của người chứng đạo, không thấy qua cái thấy của nhục nhãn
bình thường mà thấy bằng "Tuệ nhãn". Về "cái thấy", giáo lý
đạo Phật dạy có năm cách nhìn thấy khác nhau. Dựa trên thành quả tu chứng mà
cái thấy của người học đạo, hành đạo và chứng đạo đối với hiện tượng vạn hữu
chia thành năm cách thấy: Cái thấy qua "nhục nhãn". Cái thấy qua
"thiên nhãn". Cái thấy qua "pháp nhãn". Cái thấy qua
"tuệ nhãn". Cái thấy qua "Phật nhãn".
Cái thấy qua "nhục nhãn" là cái thấy "tầm
thường". Cái thấy qua "thiên nhãn" là cái thấy "bình
thường". Cái thấy qua "pháp nhãn" là cái thấy của người
"đạt đạo", của hàng Tiểu thừa THANH VĂN, DUYÊN GIÁC. Cái thấy qua
"Tuệ nhãn" là cái thấy của người CHỨNG ĐẠO, cái thấy của căn cơ Đại
thừa, của Bồ tát trên đoạn đường gần đến VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC của
"Phật nhãn".
Người CHỨNG ĐẠO, nhìn thấy thấu triệt bản chất căn nguyên của vạn
pháp. Nói cách khác, người chứng đạo nhìn hiện tượng vạn pháp họ thấy được cái
"thực tướng" của vạn pháp. Họ biết rất kỹ rằng cái tướng thực của vạn
pháp là "không có gì". Tất cả chỉ là duyên sanh, mà duyên sanh thì
như huyễn, không thật có.
Qua cái thấy của con người chứng đạo, "vọng tưởng" đã là
vọng thì còn quan tâm, còn mơ tưởng, còn kết giao, gá nghĩa với nó được sao?
Biết nó vọng thì mình đã "không vọng". Không vọng là đã tự
"chơn" rồi. Do vậy, "vọng" không phải "trừ",
"chơn" không cầu, không cần "mơ ước" mà tự có.
Nước trong, trăng hiện, mây tan, trời hiện, phiền não vô minh hết,
Phật tánh hiện. Trăng vốn sẵn có trong lúc nước ao hồ vẩn đục. Phật tánh thanh
tịnh vốn có trong lúc con người biểu lộ đầy những phiền não vô minh đau khổ.
Giác là Phật, mê là tục tử phàm phu.
"Không
trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân".
"Thật
tánh của vô minh là Phật tánh".
Kinh điển Phật thường đề cập "Tam thân" của con người
chứng đạo. Pháp thân là cái bản thể châu biến. Về thời gian xuyên suốt quá khứ,
hiện tại và vị lai. Về không gian khắp cùng đông, tây, nam, bắc, tứ duy, thượng
hạ. Từ Pháp thân đó, duyên sanh ra các hiện tượng vạn hữu. Ảo hóa thân là một
hiện tượng trong vô vàn hiện tượng "duyên sanh". Vì thế cho nên ảo
hóa thân không ngoài Pháp thân. Từ nơi Pháp thân duyên khởi sanh ra ảo hóa
thân. Ảo hóa thân và Pháp thân, không phải LÀ mà không phải KHÔNG LÀ. Đó là
chân lý "Bất tức, bất ly", trung đạo. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché,
không phải đất. Đúng, nhưng không đúng trọn vẹn. Bảo rằng: lu, hũ, chum, ché là
đất. Đúng, nhưng cũng không đúng trọn vẹn. Mà phải hiểu rằng: lu, hũ, chum, ché
không "là" đất nhưng chúng không ngoài đất. Đất không phải là lu, hũ,
chum, ché, nhưng ngoài đất không làm sao có lu, hũ, chum, ché.
Người biết học đạo, hành đạo theo chánh pháp, không xem khinh thân
ảo hóa, vì biết rằng thân ảo hóa là diệu dụng duyên khởi của Pháp thân. Thân ảo
hóa và Pháp thân "bất tức mà bất ly" như đồ gốm và đất sét của đại
địa mênh mông kia vậy.
"Ảo hóa không thân tức Pháp thân"
Nhận rõ và thực chứng được bản thể thanh tịnh châu biến, chuyên
sanh mầu nhiệm của Pháp thân, bấy giờ chợt tỉnh và thấy rằng tất cả hiện tượng
vạn hữu có cùng một bản thể chung cùng, chỉ do nhân duyên không đồng mà có sự
sai khác. Dù hiện tượng vạn hữu có ngàn sai muôn khác nhưng cái thấy của người
chứng đạo: Tất cả cùng một thể thanh tịnh không hề có sự vật nầy là nguyên
nhân, gây đau khổ cho sự vật nọ.
"Pháp
thân giác liễu vô nhất vật".
"Vô nhất vật" là do "người chứng đạo"
sử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp bên mặt Tổng. Thấy có nhiều "vạn vật"
tại vì dùng nhục nhãn nhìn vạn pháp bên mặt Dị Biệt duyên sanh của nó.
Từ nhận thức đó, người chứng đạo thấy rằng: "duyên sanh"
vạn pháp "vô tình" cũng như "duyên sanh" vạn loại "hữu
tình", cùng có chung một "bản nguyên", một cội nguồn thanh tịnh
là "Thiên chân Phật".
"Ngũ
uẩn phù hư không khứ lai
Tam
độc thủy bào hư xuất một".
Dưới con mắt của người chứng đạo, thân con người kết hợp bởi ngũ
uẩn, duyên sanh. Vì duyên sanh cho nên thân của phàm nhân hay thân của thánh
đức đều chung một dạng "phù hư". Vì là "phù hư" cho nên nó
sanh diệt, khứ lai, tụ tán. Cái điểm ưu việt khác hơn người của con người chứng
đạo là họ thấy rõ và biết kỹ rằng phù vân dù có sanh diệt, khứ lai, tụ tán
nhưng nó không bao giờ mất mà nó vĩnh cửu khứ lai, sanh diệt, tụ tán trong bầu
hư không vốn dĩ bất sanh bất diệt. Dưới cái nhìn của người chứng đạo, vấn đề
sanh tử chỉ là chuyện tầm thường như vô vàn sự vật diệt sanh tan hợp khứ lai
bình thường khác.
Tham, sân, si, nhà Phật gọi chúng là "Tam độc". Vì tánh
tác hại của chúng gây cho loài người không sao kể hết những biến chứng khổ đau
cùng cực do chúng gây ra. Nhưng bình tâm mà nói. Vận dụng tuệ nhãn mà nhìn thì
"tam độc" không có thực tánh. Tam độc cũng có thể xuất hiện khiến cho
con người khổ đau cùng cực. Tam độc cũng có thể biến mất không để lại một bóng
dáng, một dấu vết xấu xa nào. Tam độc có hay không có tùy thuộc ở con người MÊ
hay GIÁC. Thực chất của tam độc là không có chất. Chúng như những bong bóng nổi
chìm sanh diệt của những cơn sóng vỗ mặt ghềnh! Hiểu rõ chân lý đó, đối với sự
tử sanh, sanh diệt của tự thân cũng như của hiện tượng vạn pháp, người chứng
đạo thấy bằng cái thấy bình tĩnh, an nhiên, không có gì phải lo âu, phải sợ
hãi. Chẳng những thế, người chứng đạo còn thấy biết rõ: Khi mình sanh ra từ đâu
và đến và lúc chết sẽ đi về đâu!
aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
THI
CA 2
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ
NHƠN PHÁP
Phiên âm:
Chứng thực tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước a tỳ nghiệp
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh
Tự chiêu bạt thiệt trần sa kiếp
Dịch
nghĩa:
Chứng "thật tướng" thấy rõ cõi đời "vô
tướng"
VÔ TƯỚNG đồng với "vạn pháp giai không"
Tướng "PHÁP", "NHƠN" mà còn chẵng
có gì!
A tỳ nghiệp vì gì mà hiện hữu
Đấy lẽ thật, đây lời nói thật
Nói cho mình và hy vọng đến với ai kia
Không có ý chi dối gạt phỉnh phờ
Được phép thệ! Dù thề độc cũng xin cam nhận
TRỰC
CHỈ
Người
chứng đạo quán triệt thật tướng của vạn pháp là vô tướng, người ta sẽ không còn
chấp NHƠN và PHÁP. Do diệt bỏ ý niệm chấp mà tâm hồn thanh thoát khinh an đến
độ tự tại NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG. Vì vậy, cái gọi là nghiệp A tỳ nếu có, cũng tự hóa
giải tiêu dong. Đó là sự thật mà đạo lý có thể chứng minh.
Nghiệp
A tỳ nếu có, nó phát nguyên từ ý niệm chấp mắc. Chấp nhơn và chấp pháp là hai
đối tượng chấp, nó sanh ra vô vàn đâu khổ và là nguyên nhân đau khổ. Tám mươi
bốn ngàn trần lao phiền não đều do hai thứ chấp VÔ NHƠN mà ra. Thấy biết rõ
tánh chất VÔ NHƠN, VÔ PHÁP thì diệt hết khổ nạn A tỳ trong sát na là chân lý
đương nhiên vậy.
Người
học Phật, tu Phật không được THỀ. Vì thiết tha với chân lý, vì muốn truyền trao
chánh pháp trong sáng cho mọi người con Phật, tác giả CHỨNG ĐẠO CA, phải thốt
ra lời: như cam kết, như tự THỀ để nói lên nỗi lòng thành thật và tha thiết đối
với chánh pháp.
"Được
phép thệ, dù thề độc cũng xin cam nhận".
THI
CA 3
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
SỰ
MẦU NHIỆM CỦA NHƯ LAI THIỀN
Phiên
âm:
Bốn giác liễu Như Lai thiền
Lục độ vạn hạnh thể trung viên
Mộng lý minh minh hữu lục thú
Giác hậu không không vô đại thiên
Dịch
nghĩa:
Thoắt chứng nhập NHƯ LAI thiền định
Vạn hạnh tròn mà lục độ cũng châu viên
Còn mộng mơ, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết
TRỰC
CHỈ
Người
tu hành, đến một lúc nào đó có thể chợt tỉnh thức và khi tỉnh thức người ta có
khả năng thể nhập, đi sâu vào Như Lai Thiền. Như Lai Thiền là thứ Thiền chỉ khi
nào đền địa vị Như Lai mới có. Thể nhập Như Lai Thiền đối với vạn pháp không
cần tu mà vạn hạnh tự nhiên đã sẵn đủ. Thể nhập Như Lai Thiền với lục độ không
cần hành mà hành một cách viên mãn rồi. Bởi vì Như Lai Thiền là thứ Thiền viên
mãn và siêu viên mãn nữa.
Vậy
NHƯ LAI THIỀN là THIỀN như thế nào?
Đáp:
Như Lai Thiền là Thiền kkhông cần ngồi, vì nó vượt cái cần thiết ngồi. Như Lai
Thiền không cần định tâm vắng lặng, vì nó vượt ngoài cái cần thiết định tâm
vắng lặng. Như Lai Thiền là thứ Thiền không cần gia công dụng ý để thiền, mà
thiền trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi và thiền ở mọi nơi chốn, ở mọi thời gian.
Như Lai Thiền là kết quả, là THIỀN RỔI tất cả tám muôn bốn ngàn thứ thiền khác.
Cho nên tỉnh thức và thể nhập Như Lai Thiền thì không đức tốt, hạnh lành nào là
không viên mãn.
Thành
quả của Như Lai Thiền được đúc kết qua các tiêu chuẩn như sau:
1. Thân vô thất
2. Khẩu vô thất
3. Ý vô thất
4. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ hành
5. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ hành
6. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành
7. Trí tuệ tri quá khứ vô ngại
8. Trí tuệ tri hiện tại vô ngại
9. Trí tuệ tri vị lai vô ngại
10. Vô dị tưởng
11. Vô bất định tâm
12. Vô bất tri. Tri hỉ xả
13. Dục vô giảm
14. Niệm vô giảm
15. Định vô giảm
16. Tinh tấn vô giảm
17. Giải thoát vô giảm
18. Giải thoát tri kiến vô giảm
Có
ngần ấy tiêu chuẩn thì những đức tốt, hạnh lành trên cõi đời này có cái thứ nào
mà còn thiếu! "Lục độ vạn hạnh thể trung viên", đối với con người
"Đốn giác liễu Như Lai Thiền" hẳn không phải là thứ danh ngôn cường
điệu.
Người
đệ tử Phật có học Phật thật, có ham tu thật và có hiểu kỹ về Phật, người ta
không thèm sợ sáu nẻo luân hồi như là: cảnh giới địa ngục, cảnh giới ngạ quỷ,
cảnh giới súc sanh, cảnh giới người, cảnh giới A-tu-la và cảnh giới trời ở ngoại
cảnh. Mà người ta chỉ quan tâm "Lục Thú" ở nội tâm. Lục thú ở nội tâm
nó trực tiếp tác động hoành hành cuộc sống hiện tại của con người. Đó mới là
đáng lo sợ.
Không
sợ sự luân hồi của lục thú nội tâm mà chỉ lo sợ cho sự luân hồi lục thú ở kiếp
tương lai thì quả là con người giàu tưởng tượng! "Chẳng khác chi người
chưa làm giàu mà sợ ăn cướp. Chưa ăn cướp mà lo sợ ở tù!".
Vấn
đề "đại thiên thế giới, cõi Ta bà" có hay không? Vấn đề "Tây
phương Cực lạc" không hay có? Đó là vấn đề người học Phật phải quán triệt
sâu sắc.
Y
cứ nền giáo lý liễu nghĩa thượng thừa và sử dụng tuệ nhãn mà nhìn vũ trụ vạn
hữu trong pháp giới mười phương, thì pháp giới chỉ có một. Pháp giới "nhất
chân" không có hai, không có pháp giới nào khác với pháp giới nào. Pháp
giới có cùng một bản thể "chân như" y nhau. Vì "chân" cho
nên không thể tiêu hoại cho mất đi. Vì "như" cho nên không tăng bổ
cho thêm nhiều. Vì "chân như" cho nên mười phương pháp giới đồng một
thể: Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Qua cái thấy của
tuệ nhãn, chỉ nói tuệ nhãn của người chủng tánh Đại thừa thôi, pháp giới đã là
"nhất chân" rồi. Do nghĩa đó, người chứng đạo thấy rõ ràng.
"Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
Người
đệ tử Phật có chánh niệm, có tư duy, có quán chiếu nội tâm sẽ thấy rõ cái chân
lý đó.
Kinh
Hoa Nghiêm đức Phật dạy:
"Nếu ai muốn biết rõ
Mười phương Phật ba đời
Nên quán chiếu thể tánh của Pháp giới
Hết thảy do tâm mình kiến lập"
Do
vậy:
"… Còn mộng mê, thấy có sáu nẻo luân hồi
Khi tỉnh thức, cõi Ta bà tìm không ra dấu vết".
THI
CA 4
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ
TỘI PHƯỚC VÀ THIỆN ÁC
Phiên âm:
Vô tội phước, vô tổn ích
Tịch diệt tánh trung mạc vấn mịch
Tỉ lai trần kính vị tằng ma
Kim nhật phân minh tu phẫu tích
Dịch
nghĩa:
Tội là chi,
phước lại là chi?
Đa mang chi hai gánh nặng như chì!
Ai bắt tội? Ai là người chịu tội?
Thiện là chi,
ác cũng lại là chi?
Sợ làm chi hai danh tự vô nghì!
Sợ cái đáng sợ! Lương tâm tự hành hạ lấy.
Gương lòng
sáng, xưa nay ta vốn có
Mặc cho bụi mờ vĩnh viễn chẳng quan tâm
Ngày hôm nay, có cơ hội lau chùi
Sáng soi thấy, "phước" và "tội"
không ai ban ai phạt!
TRỰC
CHỈ
Nền
giáo lý Phật nhằm đào tạo cho con người đức tánh tự tôn. Cái nhân bản của con
người là tối tôn và hoàn toàn trong sáng. Con người hãy phát huy đức tánh vốn
có ấy để mà sống một cách tự tin ở khả năng, ở nơi nhân bản cao đẹp vốn có của
mình.
Người
đệ tử Phật không tôn trọng ai khác, ngoài nhân bản thanh cao trong sáng, mà tác
giả Chứng Đạo Ca gọi cái đó là "Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật"
của chính con người. Vì vậy, người đệ tử Phật, học Phật, tu theo đạo Phật không
được sợ bất cứ một thế lực "linh thiêng", một sức mạnh vô hình hay
một đấng thưởng phạt siêu nhiên nào đó, như một số người nhẹ dạ dễ tin thường
sợ. Người theo đạo Phật chỉ sợ nhân quả. Tâm não của con người là "căn cứ
địa" phát xuất và biểu hiện ra "nghiệp nhân" THIỆN hay ÁC. Chữ
"nghiệp" trong đạo Phật chỉ sự hành động của THÂN của KHẨU của Ý được
biểu hiện cụ thể. Gieo nghiệp nhân THIỆN sẽ��#7863;t hái trái ngon, tốt lành.
Gieo nghiệp nhân BẤT THIỆN cũng sẽ được thu hoạch trái không ngon, cay đắng…
Nhân thế nào quả thế ấy, như bóng theo hình. Chung qui lại, do TÂM làm chủ hết.
Tạo nghiệp nhân thiện hay ác, sẽ tự nhận lấy quả khổ hay vui. Hễ nhận lấy quả
khổ thì người ta cho là do mắc TỘI. Nếu nhận lấy quả vui thì người ta cho là
được PHƯỚC. TỘI hay PHƯỚC rõ ràng chỉ là kết quả của con người gieo nhân THIỆN
hay ÁC ở thời gian trước đó mà thôi.
Đúng
chân lý mà nói thì không ai là người có quyền ban cho và không ai là người phải
chịu tội với ai cả.
Lập
trường bình đẳng của đạo Phật, biểu hiện cụ thể qua tính "bình đẳng về
nhân bản của mọi con người".
"Sáng soi
thấy: TỘI, PHƯỚC không ai ban và ai phạt".
THI
CA 5
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỀ
TĨNH TÂM VÔ NIỆM
Phiên âm:
Thùy vô niệm? Thùy vô sanh?
Nhược thực vô sanh vô bất sanh
Hoán thủ cơ quan mộc nhân vấn
Cầu Phật thi công tảo vãn thành
Dịch
nghĩa:
Ai là người
thường ước mơ vô niệm
Ai là người hằng mong đạt đến vô sanh
Vô niệm vô sanh là ước mơ cuồng vọng hảo huyền
Rất oan uổng! Hóa đá một kiếp người tràn đầy linh
động.
Để trắc nghiệm,
xin hỏi, "ông Robot" người máy
Quả Bồ đề! Bao năm tháng nữa, ông thành?
Hỏi là hỏi vậy thôi, hỏi tức trả lời
Ai can đảm, đủ sức chờ "ông" giải đáp.
TRỰC
CHỈ
Tu
đạo Phật, rất cần CHÁNH NIỆM mà không cần VÔ NIỆM. Có thể nói: Có chánh niệm là
có tất cả đức tốt, hạnh lành. Có chánh niệm rất dễ thành công trên tám nẻo
đường "bát chánh". Suốt cuộc đời hóa đạo chúng sanh, đức Phật không
lúc nào rời chánh niệm. Chánh niệm nuôi lớn ngũ căn, chánh niệm phát triển ngũ
lực, chánh niệm gìn giữ thất thánh tài, chánh niệm trưởng dưỡng thất giác chi.
Chánh niệm cũng là chất liệu bổ dưỡng để tưới tẩm, để đượm nhuần cho quá trình
phát triển của 18 pháp bất cộng của Như Lai Phật.
Tu
Phật mà mong cầu VÔ NIỆM là tu sai. Vô niệm thì còn ai để biết, để tư duy chân
lý và những gì phi chân lý!
Tu
mà cầu được vô sanh cũng là lối tu sai lạc. Trên cõi đời, có cái gì không biến
chuyển vận hành sinh diệt? Đá gỗ còn không ra ngoài vòng vận động vô thường
"hằng chuyển" sát na sanh diệt, huống hồ là một hữu tình "tối
linh ư vạn vật"!
Mong
trở thành người VÔ NIỆM, cầu được chứng đắc VÔ SANH là ý tưởng cuồng vọng sai
lầm và không có ngày hiện thực. Giả sử cái ngày hiện thực đến, con người VÔ
NIỆM VÔ SANH "tệ" hơn loài khoáng vật, thực vật vô tình… Con người
hữu tình, vốn có tri giác lại trở thành người máy có "cơ quan" điều
khiển vậy thôi sao?
Việc
làm của người tu hành, tương tợ như việc làm của người huấn luyện khỉ. Người
huấn luyện khỉ có tài là "thuần hóa" được khỉ, dạy khỉ làm trò, làm
xiếc… theo ý muốn của mình. Chứ huấn luyện khỉ làm cho "óc khỉ" trở
thành chứng bệnh phân liệt, không còn hoạt động được gì, đó không phải là cách
huấn luyện khỉ của người có tài, có trí.
Tu
hành cần có những giờ phút "tĩnh tâm" nhưng tĩnh tâm, không được hiểu
đó là những phút giây VÔ NIỆM.
VÔ
SANH là một ý niệm mà người tu Phật phải từ bỏ dứt khoát. Vô sanh đồng nghĩa
với "đoạn diệt". Tự mình làm cho mình "rớt" vào hàng ngũ
của ngoại đạo "đoạn kiến" là cách tu sai lạc, đáng thương!
THI
CA 6
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
XẢ
NGÃ XẢ PHÁP LÀ THÀNH PHẬT
Phiên âm:
Phóng tứ đại mạc bả tróc
Tịch diệt tánh trung tùy ẩm trác
Tức Thị Như Lai Đại Viên Giác
Dịch
nghĩa:
Thân tứ đại
đừng sanh tâm chấp đắm
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi?
Gọi là Ngã thể, vẫn hư thì đời còn chi thật
Các hành pháp
luật vô thường chi phối hết
Tuệ nhãn nhìn, đương thể tức không
Hiểu sâu xa, quán chiếu tận nguồn chân
Tánh của vạn pháp, là NHƯ LAI VIÊN GIÁC
TRỰC
CHỈ
Thân
tứ đại là thân kết hợp bởi bốn chất: địa, thủy, hỏa, phong. Nó là cái thân bị
lệ thuộc chi phối bởi luật vô thường như vạn vật hiện tượng khác. Nó còn là cái
kết quả của khổ và bất an nhiều mặt. Kinh điển thường ví sự tạm bợ mong manh vô
chủ của nó qua từ "huyễn thân". Ấy thế mà ở đời không có mấy ai thấy
được tánh chất huyễn của nó. Trái lại người ra rất qúi trọng nó hơn bất cứ thứ
gì trên cõi đời. Điều đáng nói là vì nó mà tạo nghiệp bất thiện, trong suốt cuộc
đời để phục dịch vun bồi cho nó không có phút giây nhàm chán. Ý niệm đam mê
luyến ái nặng nề về thân, kinh điển gọi đó là "chấp ngã", tức là quá
tôn tọng cái thân. Rồi vì thân mà tạo ác nghiệp, vì thân mà chịu khổ…
"Thân tứ đại đừng sanh tâm chấp mắc
Quay trở về thể vắng lặng của chính mình
Đói thì ăn, khát uống ngại ngùng chi
Gọi là "ngã thể" vẫn hư, thì đời còn chi
thật.
"Phóng
tứ đại" con người sẽ nhẹ nhàng, sẽ có an lạc trong cuộc sống, vì con người
vốn có tánh vắng lặng, thanh tịnh, trong sáng, có thể thọ dụng nó từ đời này
sang đời khác vĩnh viễn không có cạn kiệt.
Nhận
thấy được tánh chất "ngã không" thì "pháp không" không còn
là vấn đề khó biết nữa. Chủ thể nhận thức đã là vô thường, vô ngã, khổ, bất
tịnh và không, thì đối tượng nhận thức cũng không vượt qua ngoài sự chi phối
đó! Cho nên người đạt đạo sẽ nhận thấy rõ:
"Chư hạnh vô
thường nhất thiết không".
Thấy
được tánh "giai không" của vạn pháp, thấy được tánh vô thường của
hành pháp, thì cái NĂNG TRI và SỞ TRI đó trở thành một bầu vũ trụ NHƯ LAI VIÊN
GIÁC nhiệm mầu. Lúc bấy giờ:
Ta không cầu thành Phật
Phật cũng chẳng cầu thành ta
Ta là Phật
Phật là ta.
THI
CA 7
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ
LẬP
TRƯỜNG VÀ LÝ TƯỞNG CỦA MÌNH
Phiên âm:
Quyết định thuyết, biểu chân tăng
Hữu nhơn bất khẳng nhiệm tình trung
Trực triệt căn nguyên Phật sở ấn
Trích diệp tầm chi ngã bất năng!
Dịch
nghĩa:
Nếu được nói,
tôi lập trường thẳng thắng
Để tỏ ra, lời của một chân tăng
Huynh đệ nghe, nghịch ý chẳng chung lòng
Gay gắt trách, tôi xin cam nhận hết
Tôi không thích
ba hoa vặt vãnh
Thích học điều, Phật tổ đã đinh ninh
Diễn rõ căn nguyên "liễu nghĩa thượng thừa"
Không được vậy, tôi không còn gì để nói.
TRỰC
CHỈ
Quyết
định thuyết là lời nói có lập trường, có trách nhiệm, nhàm bảo vệ mục đích và
lý tưởng của mình. Lý tưởng của tác giả là chánh pháp liễu nghĩa thượng thừa
của Phật tổ đã đinh ninh dặn dò khuyên dạy. Lập trường của tác gải là "nói
thẳng, nói thật". Nói để diễn đạt chân lý, truyền bá chân lý liễu nghĩa
thượng thừa cho mọi người con Phật cùng học hỏi, tiếp thu để hành đạo và chứng
đạo. Không nói "vuốt đuôi". Không nói để "chiếm cảm tình".
Không nói kiểu "thỏa hiệp". Không nói kiểu "phương tiện"…
để rồi người nghe không được tí nào lợi ích.
Học
chánh pháp, hành chánh pháp, sống theo chánh pháp và truyền bá chánh pháp không
thể sử dụng các kiểu nói tầm thường vừa kể. Để bảo đảm giá trị lời nói của một
"chân tăng", một vị thầy đúng danh nghĩa của đệ tử mình, lời nói phải
có lập trường, phải phục vụ cho một lý tưởng giải thoát, giác ngộ tuyệt vời cao
đẹp.
Một
chân tăng, theo tác giả Chứng Đạo Ca, sẵn sàng chấp nhận cô đơn, chấp nhận sự
công kích, sự thóa mạ… của mọi người. Hoặc sẵn sàng "không nói gì
hết". Bao nhiêu ngôn ngữ nhường hết cho…
THI
CA 8
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
TÂM
TÁNH LÀ NGỌC MA NI
Phiên âm:
Ma Ni Châu, nhân bất thức
Như Lai tàng lý thân thâu đắc
Lục ban thần dụng không bất không
Nhất lỏa viên quang sắc phi sắc
Dịch
nghĩa:
Tâm trong sáng người người ai cũng có
Nó là Ma Ni là Như Ý bảo Châu (1)
Chẳng mấy ai, biết rõ cái tâm này
Nó mầu nhiệm, thu gọn cả Như Lai tàng tánh (2)
Sáu thần dụng, thấy sắc mà phi sắc (3)
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không (4)
Nghĩa sắc không, mầu nhiệm vô cùng
Chứng "thật tướng", mối nghi này mới mở hết.
TRỰC
CHỈ
Con
người ai cũng có Chân Tâm. Tự thể chân tâm vốn trong sáng, thanh tịnh, vắng
lặng, nhiệm mầu. Trong Chân Tâm không có một gợn phiền não khổ đau, bất mãn,
bất bình. Cũng không có ý niệm ta, người, thương, ghét, thân, sơ… Kinh điển
Phật thường ví Chân Tâm ấy như Ngọc Ma Ni.
Ai
cũng sẵn có ngọc Ma Ni mà không biết mình có ngọc Ma Ni quí báu ấy. Ngọc Ma Ni
vô giá trong người mà không phát hiện để sử dụng cái công dụng NHƯ Ý của ngọc.
Có ngọc Như Ý, con người sẽ không còn gì để "thiếu". Phát hiện ngọc
Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý, nhìn vạn pháp bằng "Phật nhãn" cho nên:
"Sáu thần dụng thấy sắc mà phi sắc
Một viên quang, rằng không nhưng lại phi không"
Vì,
người phát hiện ngọc Như Ý, sử dụng ngọc Như Ý là người chứng thật tướng của
vạn pháp rồi.
"… Chứng thật tướng vô nhơn pháp
Sát na diệt khước A tỳ nghiệp"…
THI CA
9
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
MỐI
TƯƠNG QUAN CỦA NGŨ NHÃN VÀ NGŨ LỰC
Phiên âm:
Tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực
Duy chứng nãi tri nan khả trắc
Kính lý khán hình kiến bất nan
Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc
Dịch
nghĩa:
Tịnh ngũ nhãn, sẽ kéo thêm ngũ lực
Chung môi trường mới biết được diệu dụng kia
Rủ giành trăng, đáy nước… chuyện còn khuya!
Đứng trước kính, ngắm thân hình là việc dễ!
TRỰC
CHỈ
Giáo
lý đạo Phật dạy rằng, con người có khả năng và quyền sử dụng "ngũ
nhãn". "Khả năng" và "quyền" thì mọi người đều có
quyền thừa hưởng, sử dụng bình đẳng. Tuy nhiên, đây là thứ bình đẳng có điều
kiện. Mọi người phải cùng ở "môi trường TU" thì mới cùng được ở trong
"môi trường CHỨNG".
"Tịnh
ngũ nhãn" là người đạt đến giai đoạn CHỨNG. Ngũ nhãn đạt đến giai đoạn
CHỨNG ĐẮC THANH TỊNH thì chỉ có người tự chứng tự biết. Người khác môi trường
nói và kể cho họ bảo kể cho nghe, chẳng khác "Rủ nhau giành trăng ở đáy
nước" hy vọng gì người khác môi trường bảo họ hiểu hoàn cảnh của riêng
mình. Phải cùng đứng trong vườn LAN HUỆ mới cùng thưởng thức được mùi hoa Lan
Huệ. Phải cùng đứng nơi chợ cá ươn mới thấm thía "hương vị" của chợ
bán cá ươn.
Vì
vậy, TỊNH NGŨ NHÃN, ĐẮC NGŨ LỰC là việc có thực, nhưng diễn đạt cảnh giới thanh
tịnh của "ngũ nhãn" của mình cho người khác nghe biết là điều không
dễ. Bảo người khác phải nghe và phải hiểu về cảnh giới CHỨNG ĐẮC của mình lại
càng khó, khó đến nỗi tác giả Chứng Đạo Ca ví với chuyện "Rủ nhau giành
trăng đáy nước".
Ngũ
nhãn là năm thứ mắt, nói cách khác, năm cách "tư duy" mà cùng một cách
ngó nhìn. Đó là: nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và Phật nhãn.
Ngũ
nhãn thanh tịnh, con người tự có năm thứ sức mạnh, đủ sức tiến mạnh trên con
đường Bồ Đề Vô thượng. Đó là:
CHÁNH
TÍN, CHÁNH TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH VÀ TRÍ TUỆ BA LA MẬT.
Điều
đó nói với ai? Dễ có mấy người biết! Dễ có mấy người tin! Đó là:
"…
Duy chứng nãi tri, nan khả trắc"
Họ
không tin, không có gì đáng trách, vì họ khác "môi trường"!
THI
CA 10
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO:
NHỮNG
PHÚT GIÂY TỰ NHỦ
Phiên âm:
Thường độc hành, thường độc bộ
Đạt giả đồng du Niết bàn lộ
Điệu cổ thần thanh phong tự cao
Mạo tụy cốt cang nhân bất cố
Dịch
nghĩa:
* Tôi chấp nhận cô đơn trên đường đạo
Vui một mình, vui theo nhịp bước chân đi
Tôi những mong có pháp lữ chung lòng
Cùng tiến bước vào Niết-bàn thường lạc
* Không như ý, tôi nguyền làm người cổ lỗ
Sống theo mình, sống với gió mát trăng thanh
Dù xương trơ, thân đét, thịt teo gầy
Không ân hận, tôi vui với lập trường kiên định ấy.
TRỰC
CHỈ
Những
phút giây TỰ NHỦ của tác giả CHỨNG ĐẠO CA, HUYỀN GIÁC, nói lên ý chí quyết liệt
và xác định lập trường kiên định của mình trên con đường hành Đạo. Thực vậy, tu
hành mà không có mục tiêu cho ý chí vươn lên, không có lập trường để định hướng
cho hành động, để rồi bạ đâu theo đó, "vui đâu chúc đó", "nghe
đâu tin đó" thử hỏi một cuộc đời như thế con người đó sẽ ra sao?
Xác
định lập trường là việc cần
Ý
chí quyết liệt cũng là việc cần
Chấp
nhận cô đơn cũng lại là việc cần.
Nhưng
người tu hành cũng không biến mình trở thành một con người lập dị. Lập dị là
một thói xấu trong muôn ngàn thói xấu. Cho nên lập trường của tác giả: có thể
"cô đơn", có thể "vui một mình", nhưng rồi:
"… Tôi những mong có Pháp lữ chung lòng
Cùng tiến bước vào Niết-bàn thường lạc…"
Chưa
hết, nếu ý chí đó, lập trường đó mà không được toại nguyện, vì một lý do gì đó
thì tác giả lại xác định lập trường thêm một bước nữa: Tác giả có thể trở thành
người lang thang nơi thâm sơn cùng cốc hoặc lê bước chốn cơ nội hoa đồng để
được sống cho lý tưởng của mình mà mình đã vạch ra bằng bao nhiêu nhọc nhằn
trên những năm tháng dài tu học.
Tác
giả bằng lòng với cuộc sống đó:
"… Không như ý, tôi nguyện làm người cổ lỗ
Sống theo mình, sống với gió mát trăng thanh"
Cuối
cùng, tác giả nâng lập trường lên một cấp cao hơn để "kiên định hóa"
ý chí của mình trở thành như một lời tuyên thệ:
"… Dù xương trơ, thân đét, thịt teo gầy
Không ân hận, tôi vui, với lập trường kiên định
ấy"
THI
CA 11
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
VỚI
DANH XƯNG BẦN ĐẠO
Phiên âm:
Cùng thích tử, khẩu xưng bần
Thực thị thân bần đạo bất bần
Bần tắc thân thường phi lũ hạt
Đạo tắc tâm tàng vô giá châu
Vô giá châu, dụng vô tận
Lợi vật ứng cơ chung bất lận
Tam thân tứ trí thể trung viên
Bát giải lục thông tâm địa ấn
Dịch
nghĩa:
Người thích tử
với danh xưng BẦN ĐẠO
Thân có BẦN, ĐẠO có BẦN chi!
BẦN biểu hiện áo khâu áo vá
ĐẠO không BẦN, tâm chứa NHƯ Ý châu (1)
Ngọc NHƯ Ý,
dùng sao cho hết
Nó chứa đầy TỨ TRÍ (2), TAM THÂN (3)
Vẹn LỤC THÔNG (4), BÁT GIẢI (5) cùng tròn
TÂM ĐỊA (6) sáng độ sinh vô cùng số.
TRỰC
CHỈ
Người
đạo sĩ trong đạo Phật hoặc cũng có hàng đạo sĩ không phải đạo Phật, thường tự
xưng BẦN ĐẠO. Bần đạo là cái từ khiêm tốn nhún nhường, về kiến thức, đạo hạnh
và phước đức… của một đạo sĩ. Nhưng theo tác giả Chứng Đạo Ca thì người đạo sĩ
của Phật giáo phải là người giàu chứ không được nghèo. Người đạo sĩ phải phát
hiện Như Ý châu vô giá của mình để lợi vật ứng cơ trên đường sự nghiệp.
Người
đạo sĩ "Thân bần", "Khẩu bần" có lợi hơn. Nhưng tâm thì
không thể "bần". "Thân bần", "Khẩu bần", hạn chế
ngã mạn cống cao để tiến tới diệt trừ cái "bản ngã", vĩ đại tiềm phục
trong A-lạy-gia thức của con người muôn thuở. Đạo tâm không thể
"bần", cần có đủ những chất lượng như: Tam thân, tứ trí, bát giải,
lục thông… và nhị đế dung thông tâm địa ấn nữa. Được vậy, mới thuyết pháp độ
sinh, lợi mình, lợi người, mới là vị "thầy" đúng nghĩa của người
"bần tăng" trong dòng thích tử. Cho nên người Thích tử:
…
"Khẩu xưng BẦN, ĐẠO bất bần"
Cái
Bần của người Thích tử nghèo biểu hiện mặc áo chấp "phước điền y".
BẦN để làm ruộng phước cho chúng sanh, chớ không BẦN để than van, cầu cạnh, để
"quyên tởi" quá nhiều cách ấy.
Theo
ý chí của tác giả Chứng Đạo Ca, Huyền Giác thì BẦN ĐẠO của dòng họ Thích, là
con người thân BẦN, khẩu BẦN còn tâm ý phải là đại phú, phải phát hiện NHƯ Ý
châu vốn có của mình thì sự nghiệp mình mới rạng rỡ, mới xứng đáng ít nhất là
"trung lưu chi sĩ" đó là cơ hội, là điều kiện… "Báo Phật ân đức
của mình".
THI
CA 12
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ CHỦNG TÁNH VÀ CĂN CƠ
Phiên âm:
Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết liễu
Trung hạ đa văn đa bất tín
Đản tự hoài trung giải cấu y
Thùy năng hướng ngoại khoa tinh tiến?
Dịch
nghĩa:
Rồi tất cả,
khỏi tu không cầu chứng
Đó là hạng Đại thừa, Thượng sĩ tối lợi căn
Diệt KIẾN TƯ diệt sạch hết cái TRIỀN
Rồi tất cả, mà khỏi để tâm tu chứng
Bậc Trung hạ,
những căn cơ thấp kém
Học thì nhiều, học trích cú tầm chương
Luôn mồm khoe, học vị với văn bằng
Cởi áo bẩn, còn không biết đường mở nút!
TRỰC
CHỈ
Đứng
bên "bình đẳng môn" thì Phật tánh ai cũng có như ai. Đứng bên
"sinh diệt môn: thì vấn đề CHỦNG TÁNH, CĂN CƠ, góp phần rất quan trọng cho
sự "nhất quyết" "nhất thiết liễu" của người tu hành. Phải
cương quyết, phải nhất quyết, quyết định cho mình một hướng đi, một mục đích
đến mà không thể do dự, phân vân bán nghi bán tín, bởi vì NGHI là một trong
"Tư hoặc", trong "Thập sử", trong "Ngũ cái". Một
khúc gỗ ở thượng nguồn, muốn trôi đến biển cả phải vượt qua năm điều cấm
kkhông được trôi tắp hai bờ. Không để cho người vớt. Không theo nước xoáy mà
thôi. Không vướng vào cồn đảo. Tự nó không ruỗng mục bên trong. Phải thẳng tắp
mà trôi mới ra biển được. Chần chờ, do dự "không nhất quyết" thì
không đến đích giải thoát giác ngộ được. Vì còn vướng, còn "tắp" chưa
chịu trôi!
Học
theo kiểu tầm chương trích cú, học hiểu để ngâm phong vịnh nguyệt, uốn ba tấc
lưỡi nói chuyện trên mây, trên "trời" để dọa hù những người cả tin
nhẹ dạ. Với cuộc sống của tự mình, việc làm, chuyện nói rặt mùi ám chướng u mê.
Hở môi ra thì khoe khoang học vị văn bằng. Chạm mặt với phiền não đành nằm gác
tay lên trán mà chịu đựng cho lương tâm hành hạ. Miệng oang oang nói về Cực
lạc, Thiên đàng lòng u uẩn đắm chìm trong A tỳ ngục.
Đó
là cái học của kẻ "hạ lưu". Dưới nhãn quan của tác giả Chứng Đạo Ca,
vấn đề Chủng Tánh Căn Cơ, người Thích tử phải lưu tâm bồi dưỡng nó.
THI
CA 13
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VẤN ĐỀ THỊ PHI
Phiên âm:
Tùng tha báng, nhậm tha phi
Bả hỏa thiêu thiên đồ tự bì
Ngã văn kháp tự ẩm cam lộ
Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì
Dịch
nghĩa:
Tốt và xấu nhà
nhà đều có
Thị với phi, chốn chốn "hưởng" đồng nhau
Mặc tâng khen, mặc phỉ báng, đừng nao
Họ tự bỏng, bằng ngọn lửa đốt trời trong tay họ
Lời phỉ báng,
nghe như ru, như gió thoảng
Ngọt như cam lồ, mát tợ xuân phong
Tìm đâu ra! Bực bội với u sầu?
Nó tan biến trong cảnh giới "bất tư nghì"
giải thoát.
TRỰC CHỈ
Thị
phi, nhơn ngã, hỉ nộ, ái ố… suốt ngày ở đâu cũng có, nhà nhà đều có. Hay dở,
khen chê, tốt xấu, xứ nào cũng có. Tất cả những cái đó, muốn cho nó trở thành
không có, thì: Một, không nghe. Hai, nghe mà không để dạ, không tư duy về nó,
thì tự nó "tiêu dung".
"Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì"
Đó
là việc có thật. Mọi người có thể tự thí nghiệm bằng cuộc sống của mình, trong
những trường hợp mình "lỡ" bị thị phi ập đến.
Người
tu hành rất cần "chánh niệm" để kịp thời đối phó với nghịch cảnh, nếu
có. Trường hợp bị phỉ báng, thị phi, ta nhớ: Họ sẽ tự bỏng bởi ngọn lửa đốt
trời trong tay họ. Miệng họ tự ô uế trước, vì máu họ ngậm để phun người. Quán
chiếu và tư duy như vậy, người tu sẽ nhẹ nhõm ngay, cơn bực tức sẽ hạ tức thời,
nếu chánh niệm đến kịp lúc.
Người
chân tu nghe thị phi như gió thoảng, như ru hời, ngọt như cam lồ, mát như xuân
phong, tỉ tê như nhạc thính phòng, nỉ non như tiếng sáo Trương Lương… là chuyện
có thật. Đó là ý thú của câu và của người.
"Kiến sắc phi can sắc
Văn thanh bất thị thanh
Sắc thanh vô quái ngại
… Thị đáo pháp vương thành"
"Ngã văn pháp tự ẩm cam lộ"
"Tiêu dung đốn nhập bất tư nghì"
Là
chuyện có thật của người chân tu, biết tu, thường giữ được… "Chánh
niệm" và chánh định trong đời sống tu hành.
Tu
mà không đem lại kết quả, không hóa giải được vô minh phiền não, không có chút
an lạc nào trong đời sống hiện tại là "Tu sai" cần phải sửa.
Hy
vọng kết quả ở đời sau, sau khi chết càng sai nghiêm trọng.
THI
CA 14
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ SỰ HỦY BÁNG
Phiên âm:
Quán ác ngôn thị công đức
Thử tắc thành ngô thiện tri thức
Bất nhân sáng báng khởi oan thân
Hà biểu vô sanh từ nhẫn lực
Dịch
nghĩa:
* Lời sỉ nhục ta nghe ra răn dạy
Người dạy ta là thiện tri thức của ta
Nhờ ân sư mà đạo lực kiên cường
Lòng thánh thiện, ta thọ dụng, vô vàn an lạc
* Câu hủy báng, ta không quan tâm để dạ
Kết oan cừu nào có lợi chi
Để chứng minh sức TỪ, NHẪN vô sanh (1)
Hãy mở rộng cửa lòng bao la như biển.
TRỰC CHỈ
Người
nói được cái xấu, dở của ta, người đó đáng là người THIỆN HỮU TRI THỨC. Lời hủy
báng, sỉ nhục nếu ta có đạo lực, chánh niệm vững vàng thì sự kiện đó làm cho ta
tăng thêm nghị lực trên bước đường hành đạo. Cho nên:
"Quán ác ngôn, thị cộng đức"
Đó
là điều có thật đối với người chân tu thực học, nghe sỉ nhục, hủy báng mà giận
mà thù thì làm sao tỏ rõ được sức TỪ BI, NHẪN NHỤC và VÔ SANH của một Thích tử.
Phải biểu lộ và chứng tỏ sức: TỪ, NHẪN, VÔ SANH của đạo Phật qua những "ác
ngôn" những "sáng báng" mà không được khởi" oan thân".
Cái thấy của người chứng đạo, qua niệm vấn đề là như thế.
"Nhiêu, nhiêu, nhiêu thiên tai vạn họa nhất tề tiêu
Nhẫn, nhẫn, nhẫn oan gia trái chủ tùng thử
tận
Mặc, mặc, mặc vô hạn thần tiên tùng thử
đắc…"
THI
CA 15
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO ĐỊNH TUỆ LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH QUẢ BỔ ĐỀ NIẾT
BÀN
Phiên âm:
Tông diệc thông, thuyết diệc thông
Định tuệ viên minh bất trệ không
Phi đản ngã kim độc đạt liễu
Hằng sa chư Phật thể giai đồng
Dịch
nghĩa:
Chánh giáo giỏi, thuyết giáo hẳn là sâu sắc
Định tuệ tròn, sẽ không vướng CÓ và KHÔNG
Không riêng tôi, có được sự kiện nầy
Hằng sa Phật, ĐỔNG THỂ không ngoài chân lý ấy.
TRỰC CHỈ
Thiền
định, trí tuệ và sự thông minh là ba môn rất cần phải có của một tu sĩ Phật
giáo.
Chỉ
có thông minh thôi, sẽ trở thành "Thế trí biện thông" tài tình cho
lắm thì cũng chỉ là người giỏi phục vụ cho ăn, mặc, ở, ngủ… suốt đời, mà khó có
một ngày bằng lòng trọn vẹn. Người ta phải "chịu đựng" và "chịu
đựng"…
THIỀN
ĐỊNH đối với tu sĩ Thích tử không thể thiếu. Thiền định quan trọng với tu sĩ ví
như chất muối quan trọng với những "đầu bếp" nên nếm các món thực đơn
đang nấu của mình. Thức ăn không thể không có muối nhưng muối tự nó không thành
thức ăn ngon được. Vì vậy, tu thiền định phải là thứ định có tư duy, phát sanh
trí tuệ. Nhận thức chân lý trong lúc định cũng như lúc xuất định, ấy là định
đúng. Trái lại định để đi vào vô tri vô giác như tượng gỗ đá là định không có
tuệ, đó là định sai lầm, vô ích. Khác hơn định vô tri vô giác, người thiền định
bằng cách tưởng tượng. Vận dụng trí tưởng tượng: Rằng ta đến cõi trời, ta vào
động tiên, ta gặp đức Phật v.v… Đấy cũng là một thứ định không tuệ. Thứ định
nầy sai lạc sẽ không đem lại kết quả mà còn nguy hiểm cho hệ thần kinh. Thứ
định nầy định càng sâu thì "lậm" càng nặng, có thể dẫn đến bệnh
"tâm thần" loạn trí mà người bị "lậm" tưởng mình đang sinh
hoạt giao du với thần thánh, Phật trời…
Định
dẫn đến vô tưởng, vô tri giác sẽ rơi vào bệnh chấp KHÔNG, chối bỏ vạn vật hiện
hữu.
Định
để mà tưởng tượng, xuất hồn đi đây đi đó, gặp thánh, gặp Phật… sẽ rơi vào bệnh
chấp CÓ, cảnh giới do hoang tưởng mà tự thấy.
Thiền
định của đạo Phật, ĐỊNH là NHÂN, TUỆ là QUẢ. Tuệ phải là "tuệ" do
chánh định, chánh niệm, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh tinh tấn, chánh mệnh. Đối tượng tư duy quán chiếu là chân lý cuộc đời.
Do
vậy, với cái thấy của người chứng đạo:
"Định
tuệ viên minh bất trệ không…"
THI
CA 16
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ CHÁNH PHÁP CỦA NHƯ LAI
Phiên âm:
Sư tử hống, vô úy thuyết
Bách thú văn chi giai não liệt
Hương tượng bôn ba thất khước uy
Thiên long tịch thính sanh hân duyệt
Dịch
nghĩa:
Tiếng PHÁP chánh, tựa tiếng gầm sư tử
Bách thú nghe, như vỡ óc xé tim gan
Lời Như Lai, lời vô úy trong trời người
Hương tượng khiếp, còn nói chi nai và chó chóc
TRỰC CHỈ
Pháp
âm của Phật thuyết thường được ví tiếng gầm của sư tử (sư tử hống) hoặc
"hải triều" hoặc "chuyển pháp luân". Những từ đó dùng chỉ
chân lý có một sức "uy hùng" như tiếng gầm của chúa sơn lâm, sức
"áp đảo" như tiếng "gào" của sóng biển, sức "đè
bẹp" như sức cán sỏi đá của "hủ lô".
Chánh
pháp phá tà thuyết dễ như ánh sáng chiếu bóng tối, phá mê tín dị đoan huyễn
hoặc siêu hình dễ như "hủ lô" cán sỏi…
Chỉ
có người trí, hàng chư thiên (tức hạng người có gieo trồng thiện nhân, có phước
đức) nghe, sanh tâm hoan hỉ và hưởng được an lạc, ngay trong cuộc sống.
THI
CA 17
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SANH TỬ BẤT TƯƠNG CAN
Phiên âm:
Du giang hải, thiệp sơn xuyên
Tầm sư phỏng đạo vị tham thiền
Tự tùng nhận đắc tào khê lộ
Liễu tri sanh tử bất tương can
Dịch
nghĩa:
Tôi đi khắp núi, sông, rừng, duyên hải
Để tầm sư, hỏi đạo, học tham thiền
Cho đến ngày, tôi tiếp nhận chỉ chú TÀO KHÊ
Sự sanh tử, chẳng đáng gì để tâm dính dáng.
TRỰC CHỈ
Là
con người không ai dám xem nhẹ vấn đề sinh tử. Ai cũng lo âu, sợ hãi canh cánh
suốt cuộc đời.
Với
tuệ giác vô thượng của đức Phật mà người đạo sĩ tu học, có quán chiếu tư duy,
nhận thức được chân lý thì sự sinh tử không phải là việc đáng sợ hãi, đáng để
tâm ôm ấp, để rồi khổ đau vì nó, mà cuối cùng cũng không tránh khỏi. Thế là
"lỗ lã", "thiệt thòi". Tìm lý do? Chỉ vì "chấp",
vì bệnh chấp ngã, chắp pháp của con người. Đáng lý con người được hưởng sự tự
tại, giải thoát ngay trong cuộc sống, thế mà mất hết!
Từ
khi tác giả Chứng Đạo Ca tiếp nhận chỉ thú TÀO KHÊ:
"Ung dung không làm lành
"Vội vàng không tạo ác
"Bằng bặc chẳng thấy nghe
"Thênh thênh tâm không "dính"
Do
vậy, vấn đề sinh tử chẳng dính vào được. Há chẳng phải:
"Sinh tử bất tương can?"
THI
CA 18
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ ĐẠI THỪA THIỀN
Phiên âm:
Hành diệc thiền, tọa diệc thiền
Ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên
Túng ngộ phong đao thường thản thản
Giả nhiêu độc dược dã nhàn nhàn
Dịch
nghĩa:
Tu THIỀN tọa, không chỉ ngồi mới "tọa"
Thiền cả đi, khi đứng lúc cần nằm
Dẫu gươm đao dọa dẫm vẫn bình tâm
Phải độc dược, cố giữ lòng thanh thản
TRỰC
CHỈ
Xét
cho kỹ mọi sinh hoạt ở đời, người ta sẽ thấy THIỀN là một môn luyện tập thuộc
phạm trù nội tâm, một phương pháp điều Tâm hiệu quả. Do vậy, người ta ứng dụng
hầu hết mọi lãnh vực, mọi ngành nghề. Thiếu chất THIỀN khó mà phát triển tài
năng kể cả hai mặt: sinh lý và tâm lý. Muốn đánh trúng chỗ nhược của đối
phương, người võ sĩ phải thiền. Nấu ăn thật ngon, người đầu bếp phải có thiền.
Phát minh một khoa học, một vật lý, một dược liệu mới, nhà bác học phải có
thiền… Đó là thế gian THIỀN.
Ở
lãnh vực "tôn giáo", còn có ngoại đạo thiền, tiểu thừa thiền.
"Hành diệc thiền, tọa diệc thiền,
"Ngữ mặc động tĩnh thể an nhiên…"
Đấy
thuộc ĐẠI THỪA THIỀN. Tại sao Đại thừa thiền có một phong thái xem thường những
đe dọa, chết chóc? Chừng nào THIỀN GIẢ giải đáp được câu hỏi đó thì mới hiểu
được rằng ĐI, ĐỨNG, NGỔI, NẰM, đều không rời THIỀN của Đại thừa THIỀN.
Than
ôi!
"Duy chứng nãi tri nan khả trắc
"Kính lý chiếu hình khán bất nan
"Thủy trung tróc nguyệt tranh niêm đắc".
THI
CA 19
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ SINH TỬ
Phiên âm:
Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh
Sinh tử du du vô định chi!
Ngã sư đắc kiến nhiên đăng Phật
Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên
Dịch
nghĩa:
Việc sinh tử kể sao cùng số…
Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi
Bổn sư ta vô lượng kiếp phát tâm lành
Làm tiên nhẫn nhục, tu hành từ thời
NHIÊN ĐĂNG cổ Phật.
TRỰC
CHỈ
Ham
sinh sợ tử là việc thường tình. Bởi vì người đời quan niệm rằng "đời người
có một lần". Một lần sinh ra. Một lần thi đỗ. Một lần kết hôn và đáng sợ
nhất, một lần chết. Cuối cùng chết là hết!
Dưới
nhãn quan của người chứng đạo: vạn pháp không có cái gì mất hẳn. Vạn pháp là
hiện tượng vô thường nhưng chúng duyên sinh từ bản thể chân thường. Vì vậy,
việc sinh tử không thể luận kiếp số, không có sự chấm dứt dòng sinh tử. Dòng
sinh tử tử sinh cứ trôi mãi không có bến bờ dừng trụ. Nó "hằng" mà
"chuyển". "Chuyển" trong cái "hằng".
"…
Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi"
Không
phải chỉ có con người mới tử sinh vô cùng vô tận về kiếp số. Qua cái thấy của
người chứng đạo, Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni của ta cũng vậy, chư Phật trong
mười phương ba đời cũng cùng thọ dụng một chân lý.
"…
Việc sinh tử, kể sao cho cùng số…"
THI
CA 20
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ THÚ VUI CỦA THIỀN GIẢ
Phiên âm:
Nhập thâm sơn trụ lan nhã
Sầm ngâm u thúy trường tòng hạ
Ưu du tĩnh tọa dã tăng gia
Khuých tịch an cư thật tiêu sái!
Dịch
nghĩa:
Vào rừng thẳm, trụ am thanh tĩnh mịch
Dưới cội tùng, bên gộp đá bóng râm che
Làm Tăng quê, vui sâu trong tĩnh tọa, trong êm đềm
Cảnh lặng lẽ, an lành sao nói hết…!
TRỰC
CHỈ
Là
con người, ai cũng như ai. Ngày ngày lo toan sinh kế, phục vụ bản thân gia
đình, thừa ra đóng góp phần cho xã hội. Ngoài những ngày giờ làm việc mệt nhọc,
mỗi người dành cho mình một cách "giải trí", một "thú vui".
Thú vui xem phim, thú vui đọc sách, thú vui đánh cờ, thú vui câu cá, thú vui ca
nhạc…
Dưới
mắt người chứng đạo, người đạo sĩ cũng có thú vui, một thú vui khác với tất cả
thú vui của người thường. Thú vui của đạo sĩ, người thường nghe có thể không
thấy có gì vui. Vì người ta không thưởng thức nổi cái hương vị giải thoát thậm
trầm, sâu kín, mầu nhiệm của tâm hồn người đạo sĩ.
Nói
một cách khẳng định rằng, người đạo sĩ có thực tu, tu đúng chánh pháp, người
đạo sĩ đó thưởng thức trọn vẹn cái thú vui "vô vi" mà người thường
không có cơ hội được thưởng thức. Thú vui VÔ VI muốn thưởng thức nó, còn có
cách là phải theo dấu chân của người trước đã đi qua.
"Vào rừng thẳm, trụ am thanh tĩnh mịch
Dưới cội tùng, bên gộp đá, bóng râm che
"Làm Tăng quê, vui sâu trong tĩnh tọa, trong êm
đềm
"Cảnh lặng
lẽ, an lành sao nói hết… !"
THI
CA 21
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO KHÔNG NÊN TRỤ PHÁP TU PHƯƠNG TIỆN
Phiên âm:
Giác tức liễu, bất thi công
Nhất thiết hữu vi pháp bất đồng
Trụ tướng bố thí sanh thiên phước
Do như ngưỡng tiễn xạ hư không
Thế lực tận, tiễn hoàn trụy
Chiêu đắc lai sanh bất như ý
Tranh tự vô vi thật tướng môn
Nhất siêu trực nhập Như Lai địa.
Dịch
nghĩa:
Giác là hết,
chẳng cần tu với chứng!
Pháp hữu vi nhiều lắm kể sao cùng
Bố thí ra, lòng chấp, phước sanh thiên
Lúc phước hết, sinh lại cuộc đời không như ý
Như tên bắn, xé
hư không bay vút
Sức mỏn rồi, tên rớt biết về đâu!
Sao bằng ta, thẳng tiến THẬT TƯỚNG MÔN
Nhảy một nhảy, đến ngay vùng đất Phật
TRỰC
CHỈ
Muốn
đi con đường Phật, phải chú ý những điều cần biết ban đầu:
Về
pháp môn, đại để có phương tiện và cứu cánh…
Về
chủng tánh, đại để có tiểu thừa và đại thừa…
Về
giáo lý, đại để có tiệm, đốn, viên…
Về
căn cơ, đại để có lợi, độn…
Có
hiểu những điều cốt lõi đó, trong quá trình nghiên cứu, học Phật mới không sửng
sốt, ngạc nhiên, kinh hãi, thậm chí phản đối và nguyền rủa, khi đọc:
"Giác
là hết, chẳng cần tu với chứng".
Đối
với tư tưởng Đại thừa của người chủng tánh Đại thừa, đó là sự thật, không hề
cường điệu, đại ngôn, càng không hề dụng ý phủ định, chê bai, bôi bác sự tu
hành của người khác không cùng căn cơ, chủng tánh, trình độ và pháp tu giống
mình.
Người
Đại thừa nhận thức rõ, pháp hữu vi "thiên sai vạn biệt", pháp tu thì
"vô lượng pháp môn", chạy theo nó mình sẽ làm gì đây? Làm cái nào cho
mau hiệu quả? Tu món gì để được "phước nhiều"? Hành kiểu chi để mau
thành Phật? v.v… Vô số vấn đề, bao nhiêu câu hỏi được đặt ra, chắc chắn chẳng
ai biết chắc phải làm gì để được thành công sớm nhất và to lớn đến cỡ nào!
Riêng
về pháp môn tu THIỀN của THIỀN TÔNG cũng còn không biết cơ man nào rắc rối. Nếu
không có duyên tu học VÔ VI THẬT TƯỚNG MÔN thì đa số, người ta chỉ dạy nhau và
tu với nhau những pháp môn THIỀN LÁ SẢ mà thôi! Với người Đại thừa "Nhảy
một nhảy đến ngay vùng đất Phật".
Đó
là chuyện có thật. Nhưng có điều chua chát là lời thật không phải ai cũng bằng
lòng. Tuy nhiên, không vì vậy mà người chứng đạo không vì lẽ thật, nói ra lời
thật để cho ai đó "đạt giả đồng du…" chứng nhập quả bồ đề chân thật.
THI
CA 22
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO NHÌN BAO QUÁT NẮM TRỌNG TÂM
Phiên âm:
Đản đắc bổn, mạc sầu mạt
Như tịnh lưu ly hàm bảo nguyệt
Ký năng giải thử như ý châu
Tự lợi, lợi tha chung bất kiệt
Dịch
nghĩa:
Cần ôm gốc,
quan tâm chi cành ngọn
Gốc vững rồi, cành ngọn sẽ sum suê
Như lưu ly, thu hết ánh trăng vàng
Sáng vằng vặc, sáng mơ màng, châu lưu ly thu trọn vẹn
Cũng như thế,
tâm ta là châu NHƯ Ý
NHƯ Ý châu, giá trị lớn vô cùng
Tỉnh thức rồi, với THƯỜNG TRÚ CHÂN TÂM
Dùng tự lợi, dẫu lợi tha đời không bao giờ hết.
TRỰC
CHỈ
Nhìn
bao quát nắm lấy trọng tâm là cách nhìn của người khôn ngoan trong cuộc sống.
Nhà
quân sự, cất cánh chiếc máy bay thám thính, bay lượn một vùng trời hàng trăm
"cây số" để nhìn bao quát và tìm nắm lấy một mục tiêu, một
"trong tâm" của đối phương trong một vài điểm.
Tiều
phu vào rừng. Ngư phủ ra khơi. Người nội trợ đi chợ. Cô bán hàng rong… đều vận
dụng cách "nhìn bao quát, nắm lấy trọng tâm" trong nghề nghiệp của
mình. Đến như những bậc tiền bối dòng dõi tiên rồng cũng dạy cho con cháu cách
"nhìn bao quát nắm lấy trọng tâm" để chọn cho mình một ý trung nhân
trong lứa tuổi "xuân xanh xấp xỉ" búi tóc cài trâm rằng:
"Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giũa chốn ba quân".
Người
đạo sĩ cũng có cái nhìn "bao quát" trong đường học đạo và hành đạo.
Người ta thường gặp nó trong một cái từ đẹp đẽ mới nghe qua tưởng như hữu lý:
"Bồ-tát đa hạnh"
Thực
vậy, "đa hạnh" không có gì phải chê trách và chối bỏ. Nhưng "đa
hạnh" chỉ là cách "nhìn bao quát" mà người thông minh, cần phải
biết "trọng tâm" để nắm lấy. Đa hạnh chỉ là lá, ngọn, cành… Lá, cành,
ngọn, đọt có thể tiêu ma tàn tụi dễ dàng nếu gốc sùng, hà, mục ruỗng.
Trọng
tâm của đạo sĩ, qua cái thấy của người chứng đạo là TÂM. Tâm ở đây được ví
"tịnh lưu ly". Tịnh lưu ly thu hết ánh trăng vàng. "Chân tâm
thường trú", "Như Lai Viên Giác Diệu Tâm" mà phát hiện, mà tỉnh
thức, mà tỏ ngộ, mà thể nhập thì diệu dụng sẽ vô cùng vô cực. Dùng cho việc lợi
mình, dùng cho việc lợi chúng sinh từ đời nầy cho đến vĩnh viễn vô lượng đời
sau công đức không bao giờ cạn kiệt.
THI
CA 23
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỮNG CHÁNH NIỆM TRONG MỌI THỜI
Phiên âm:
Giang nguyệt chiếu, tòng phong xuy
Vĩnh dạ thanh tiêu hà sở vi?
Phật tánh giới châu tâm địa ấn
Vụ lộ vâ hà thể thượng y
Dịch
nghĩa:
Trăng vằng vặc,
lung linh vờn đáy nước
Gió ngọn tùng, nghe như cật vấn lương tri
Cảnh đêm thanh, trăng sáng: Đã làm gì?
Rằng, Phật tánh, giới châu tôi in sâu vào tâm địa.
Tôi lấy cả
ráng, mây, làm màu áo
Lấy mù mai, sương sớm để làm màn
Vui trăng sông, tùng núi, gió vi vu
Ôm Phật tánh, giới châu làm bạn đường chung chăn gối!
TRỰC
CHỈ
Cái
thấy của người chứng đạo đối với việc "tu hành" nhẹ nhàng, cởi mở, tự
tại mà hiệu quả rất cao, người chứng đạo họ có giải thoát thật sự, họ có giác
ngộ chân lý thật sự, vì vậy không có gì ràng buộc được thân tâm con người chứng
đạo. Dưới mắt của người chứng đạo, vạn pháp đồng nhất thể. Tùy duyên biến hiện
mà dáng vẻ hình hài có sai khác đó thôi. Tất cả đều cùng chung một tự tánh
thanh tịnh bản nhiên của tự nó. Từ nhận thức chân lý đó, cho nên vấn đề gọi là
TU HÀNH chẳng có gì cực khồ khó khăn.
Van
xin, cầu nguyện. Không cần
Lạy
ngũ bách danh, tam thiên Phật. Không cần.
Tụng
kinh, tay chuông, tay mỏ, ngày sáu thời. Không cần.
Vậy
người đạo sĩ, cần gì?
-
Cần vững CHÁNH NIỆM. Có chánh niệm là có tất cả. Có chánh niệm người đạo sĩ sẽ
không rời Phật tánh. Luôn luôn tỉnh thức sống bằng Phật tánh, đương nhiên có
"giới châu", có "định châu", có "tuệ châu". Giới,
định, tuệ mà in sâu tâm địa thì còn cái gì ràng buộc được, lý do nào làm cho
hành giả "bận lòng"!
Như
vậy, người đạo sĩ:
"Tôi
lấy cả ráng, mây, làm màu áo
Lấy
mù mai, sương sớm để làm màn
Vui
trăng sông, tùng núi, gió vi vu
Ôm
Phật tánh, giới châu làm bạn đường chung chăn gối!"
Đó
là việc có thật. Có thật, tuy nhiên:
"Duy chứng
nãi tri, nan khả trắc…"
THI
CA 24
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO SỰ LÝ TƯƠNG HỒ
Phiên âm:
Hàng long bát, giải hổ tích
Lưỡng cô kim hoàn minh lịch lịch
Bất thị tiêu hình hư sự trì
Như Lai bảo trượng thân tung tích
Dịch
nghĩa:
Gậy đuổi cọp,
đến nay còn chứng tích
Bát thu rồng, của Lục Tổ hãy còn lưu
Thấy vật xưa, như gặp lại người xưa
Nhìn kỷ vật, để nhủ lòng thêm tinh tấn
Cầm tích
trượng, tưởng như nắm trong tay chân lý
Tứ diệu đề với thập nhị duyên sinh…
Trượng của Như Lai là biểu tượng của "bần
tăng"
Chân đạo sĩ, chớ nên nghĩ: Đó là HƯ SỰ!
TRỰC CHỈ
Người
học Phật, phải học, hiểu những vấn đề then chốt của nền giáo lý Phật, trước khi
vào nhà Phật học đồ sộ. Đó là vấn đề:
·
Sự - Lý
·
Phương tiện – Cứu
cánh
·
Bất liễu nghĩa –
Liễu nghĩa.
·
Tục đế – Chơn đế
Hiểu
được ý nghĩa và công dụng của những cặp phạm trù đó, người đạo sĩ thấy biết
rộng sâu vào vấn đề:
- Lý pháp giới
- Sự pháp giới
- Lý sự pháp giới
- Sự sự pháp giới
- Lý vô ngại
- Sự vô ngại
- Lý sự vô ngại
- Sự sự vô ngại
Hiểu
tõ tánh chất "vô ngại" qua bốn cách nhìn "pháp giới", người
đạo sĩ chợt nhận ra chân lý "Pháp giới nhất chân". Sự là
"sự" của "lý". Lý là "lý của "sự". SỰ LÝ
VIÊN DUNG. Bấy giờ nhìn thấy gậy đuổi cọp, bát thu rồng, bình bát, tích trượng
như nhìn thấy Phật, Pháp và Tăng. Thấy được chân lý: "Một là tất cả".
"Tất cả là một". Thế cho nên với người chứng đạo những chứng tích
"hữu vi", "sự tướng" đó không ngoài "bản thể nhất
chân" thì sao được gọi là HƯ SỰ TRÌ?
Tuy
nhiên, với người chưa tỏ ngộ châ lý, ôm giữ bình bát tích trượng, ba y, chánh
gốc của Phật tổ Như Lai, để mà "lễ bái" mà "cầu nguyện" mà
"van xin" mà "hy vọng", mà trông nhờ sự "phù hộ"
sự "cứu rỗi" của Phật thì rõ là HƯ SỰ TRÌ. Vì sự chỉ là sự "hữu
vi pháp" thì của ai cũng đều như huyễn, như hóa, như sương mai, như điện nhoáng
mà thôi. Bo bo ôm giữ "sự tướng" là dẫm chân một chỗ. Mà phải hiểu:
Sự để đạt đến Lý
Phương tiện để đạt đến cứu cánh
Bất liễu nghĩa để đưa lên liễu nghĩa
Tục đế để nhận thức tư duy chân đế".
THI
CA 25
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỌNG, CHÂN ĐỀU VỌNG
Phiên âm:
Bất cầu chân, bất đoạn vọng
Liễu tri nhị pháp không vô tướng
Vô tướng vô không vô bất không
Tức thị Như Lai chân thực tướng
Dịch
nghĩa:
Chân đạo sĩ
chẳng cầu chân bỏ vọng
Vốn biết rằng: Chân, vọng không có gì!
Bảo rằng "KHÔNG", nhưng không được hiểu
"NGOAN KHÔNG"
Rằng là "CÓ", mà không nói là "THỰC
CÓ"
Nhận thức rõ,
"Như Lai chân thực tướng"
Sắc là không, không là sắc, bất tương ly
Chân lý duyên sanh, một đạo lý nhiệm mầu
Nhìn "đương thể": SẮC là KHÔNG, KHÔNG là SẮC.
TRỰC CHỈ
Giáo
lý liễu nghĩa thượng thừa trong đạo Phật, vần đề CHÂN, VỌNG không là vấn đề
đáng được bàn cãi đúng sai chân vọng nữa.
"Tánh
chân thực của pháp hữu vi là KHÔNG
Vì
duyên sinh
Ví
như huyễn
Bản
chất của pháp vô vi, không sinh không diệt
Vì
không có thật
Ví
như hoa đốm trong hư không"
Chỉ
cái vọng, cốt hiển bày CHÂN. Không vọng tự nó CHÂN. Không có CHÂN nào ngoài
VỌNG. Vọng và Chân đều không tự tướng. Không tự tướng đồng nghĩa với
"không có gì". Gọi là CÓ chỉ là sự hội tụ duyên sinh còn hòa hợp. Gọi
là KHÔNG chỉ là sự phân tán của duyên sinh tan rã.
Người
học Phật khi nói CÓ phải ý thức, mình đang nói CÓ cái gì. Lúc nói KHÔNG cũng
phải ý thực, mình đang nói KHÔNG cái gì!
SẮC
KHÔNG, KHÔNG SẮC là vấn đề của người học đạo, hành đạo và chứng đạo mới thấy
rõ:
"… Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ…"
"… Duy chứng nãi tri nan khả trắc…"
Đó
không phải là vấn đề nên "thảo luận" trong những buổi "tửu hậu
trà dư". Càng không được nói để chứng minh rằng đó là sai hay đúng. Nếu cả
đời mà ta chưa gặp "đạt giả" để "đồng du" thì chỉ còn một
cách: "độc hành độc bộ" mà thôi! Rồi thỉnh thoảng chờ nghe tiếng vọng
trong không gian thủ thỉ:
"Vui thì vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó,
mặn mà với ai…"
THI
CA 26
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO … NHẤT THIẾT DUY TÂM…
Phiên
âm:
Tâm cảnh minh, giám vô ngại
Hoát nhiên huýnh triệt châu sa giới
Vạn tượng sum la ảnh hiện trung
Nhất lỏa viên quang phi nội ngoại
Dịch
nghĩa:
Gương tâm sáng, rõ soi không ngăn ngại
Thoắt ngộ rồi, thu hết thế giới hằng sa
Vạn tượng sum la, là ảnh hiện của tâm này
Có TUỆ GIÁC, "trong" "ngoài"
không ranh giới
TRỰC CHỈ
Trong giáo lý Phật, đề cập TÂM là đi vào lãnh
vực "chuyên", vào chiều sâu thăm thẳm của tư duy và quán chiếu. Nói
cách khác, người học Phật muốn nhận thức về TÂM, thưởng thức được hương vị giải
thoát của TÂM, công dụng tuyệt vời thánh thiện của TÂM, người đạo sĩ phải thực
hiện THIỀN, phải vận dụng CHÁNH QUÁN.
Bởi vì TÂM ở trong đạo Phật nói có nhiều tên
gọi. Mỗi tên gọi, một công dụng, một giá trị lợi hay bất lợi, "bạn"
hay "thù", chỉ người thực học, thực tu, mới hiểu hết, hiểu kỹ từng
công dụng của các thứ TÂM.
- Nhục đoàn tâm
- Vọng tâm
- Chân tâm
- Thường trú chân
tâm
- Như Lai Viên Giác
diệu tâm
- Duyên lự tâm
- Bát thức tâm
- Tích tụ tinh yếu
tâm
Tâm có nhiều tên gọi như vậy, cho nên nghiên cứu
đạo Phật sơ sài, hời họt mà bàn luận về TÂM thì khó mà quán triệt vấn đề.
TÂM CẢNH MINH, chỉ cho cái tâm được loại bỏ
"vọng tâm", loại bỏ "duyên lự tâm", nhưng thứ tâm nghĩ ngợi
lăng xăng, tạp nhạp, thứ tâm gây ra một nguyên nhân và hậu quả khổ đau cho con
người.
TÂM CẢNH MINH là NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM là
THƯỜNG TRÚ CHÂN TÂM của con người vốn có. Theo giáo lý đạo Phật, đó là
"bản thể" của vũ trụ vạn hữu. Hiện tượng vạn hữu là pháp "duyên
sinh" từ tâm thể đó mà ra:
"Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
NHẤT THIẾT DUY TÂM TẠO"
"Duy tâm tạo" là "tâm thể"
bao hàm thu tóm hết vạn tượng sum la, không còn vật nào "ở trong",
cái gì "ở ngoài" nữa. Cũng như sóng mòi, bọt bong bóng, không có cái
gọi là "trong", là "ngoài", vì là cùng loại duyên sinh trên
mặt biển bao la vô tận của nước đại dương.
THI
CA 27
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CẢNH GIÁC VỀ Ý NIỆM CHẤP CỦA CHÍNH MÌNH
Phiên âm:
Hoát đạt không bát nhân quả
Mảng mảng đãng đãng chiêu ương họa
Khí hữu trước vô bệnh diệc nhiên
Hoàn như tịch nhi đầu hỏa
Dịch
nghĩa:
Kẻ thiển trí,
chủ trương: RỖNG TUẾCH
Cõi đời KHÔNG, NHÂN, QUẢ cũng KHÔNG
Khù khờ thay! Một hiểu biết đáng thương!
Rước tai họa cho bản thân mà không hay biết
Kẻ chấp CÓ bị
khổ đau vì CÓ
Người chấp KHÔNG sẽ đau khổ bởi KHÔNG
Tránh lửa thiêu, đâm đầu chạy nhảy sông
Khỏi chết nóng, chết lạnh cũng là một cách chết!
TRỰC CHỈ
Chữ
CHẤP ở trong đạo Phật có ý nghĩa rất quan trọng. Chấp đồng nghĩa như chữ
"cho là". Sự vật tôi "cho là" CÓ hoặc tôi "cho"
sự vật "là" KHÔNG. Cho là CÓ: CHẤP CÓ. Cho là KHÔNG: CHẤP KHÔNG. Cho
là KHÔNG NHÂN QUẢ: CHẤP KHÔNG NHÂN, KHÔNG QUẢ.
CHẤP
thế gian là có, chấp thế gian là không, đồng nghĩa với "chấp thường",
"chấp đoạn", không hợp với chánh pháp.
Cho
vạn pháp thực có, con người sẽ bị sa lầy, vì đam mê vạn pháp. Vì vạn pháp mà
tạo nghiệp mà chiêu báo. Cho vạn pháp là không, con người mất hết lý tưởng để
sống. Và nếu sống cũng dễ mất hết lương tâm, lương tri, không biết vấn đề thiện
ác là gì. Cho rằng không có nhân quả, cũng là hạng người rất đáng sợ, vì người
ta không quan tâm, không lượng định việc làm và hậu quả của việc làm, nếu việc
làm đó là "bất thiện nghiệp".
Không
CHẤP CÓ, vì chán ý niệm có, vì ý niệm CHẤP CÓ gây ra nhiều nguyên nhân đau khổ.
Bấy giờ xoay lại nảy sanh ý niệm CHẤP KHÔNG. CHẤP KHÔNG vẫn là một ý niệm chấp
sai lầm chân lý. Dính líu vào ý niệm chấp có đã không đem lại an lạc hạnh phúc
được. Dính líu vào ý niệm chấp không, làm sao có được sự an vui. Vả lại ở trên
cõi đời làm sao phủ định vạn pháp, làm sao trốn chạy vạn pháp, khiến cho vạn
pháp trở thành KHÔNG, cho được?
Mà
người học đạo phải hướng về "Thật tướng", phải chứng cho được
"Thật tướng" thì mới khỏi vướng hai bên.
THI
CA 28
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VẤN ĐỀ XẢ BỎ VÀ TÌM LẤY
Phiên âm:
Xả vọng tâm, thủ chân lý
Thủ xả chi tâm thành xảo ngụy
Học nhân bất liễu dụng tu hành
Chân thành nhận tặc tương vi tử
Dịch
nghĩa:
Bỏ tâm vọng. Vọng tìm không có
Chân lý tìm? Chân lý biết ở đâu?
Sai lầm ngay trong ý niệm BỎ, TÌM
Lơi cảnh giác, tưởng con mà là giặc!
TRỰC CHỈ
Hễ
có ý niệm LẤY, BỎ thì cũng có các ý niệm tốt, xấu, thương, ghét, thân, sơ,
sang, hèn, phải, quấy, ta, người… Đó là những ý niệm phát xuất từ vô minh vọng
động, khiến cho CHÂN TÂM thanh tịnh vốn có của con người bị ẨN mất. Ví như sóng
mòi, bọt bèo của nước biển không thể hiện được tánh phẳng lặng như tờ của biển.
Theo
giáo lý Bát Nhã Ba La Mật, pháp sai lầm trái chân lý trừ bỏ đã đành mà pháp gọi
là chánh là đúng, cũng phải bỏ nốt.
Một
bàn tay cầm nắm phải bùn đất, cần buông bỏ đã đành, bàn tay cầm nắm kim cương,
vàng ròng thì bàn tay đó cũng bị "nắm cứng" vì mớ vàng ròng và kim
cương ấy. Bàn tay sẽ không dùng được vào một việc gì khác, trong khi công dụng
của bàn tay có thể phát huy diệu dụng, lợi ích vô cùng.
Sai
lầm của THỦ, XẢ nó không đóng khung trong "thủ xả" mà nó liên can lôi
cuốn theo nhiều thứ khác. Vì vậy, tác giả nói:
"Thủ
xả chi tâm thành xảo ngụy…"
THI
CA 29
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CHẾ TÂM NHỨT XỨ…
Phiên âm:
Tổn Pháp tài, diệt công đức
Mạc bất do tư tâm ý thức
Thị dĩ thiền môn liễu khước tâm
Đốn nhập vô sinh tri kiến lực
Dịch
nghĩa:
Công đức giảm, pháp tài sa sút mãi
Thảy đều do: Tâm, Ý, Thức mà ra
Thế cho nên, Thiền Đạo đối với Tâm
Cần Trực Diện, hun đúc sức Vô Sinh Tri Kiến
TRỰC CHỈ
TÂM
tức là đệ bát thức, cũng gọi "A lại da", là "Di thục" hay
"Nhất thiết chủng thức". Nó là tổng thể, hàm chứa hết mọi thứ: cả SẮC
cả TÂM. Tên là ĐỆ BÁT THỨC TÂM VƯƠNG, nhưng nó còn có cái tên "Tàng".
Vì vậy, nó không phải chỉ có phần "tâm" mà nó hàm tàng cả
"sắc".
Ý:
ở đây chỉ cái công dụng chấp ngã tức là "đệ thất thức". Ý làm
"tổn pháp tài", "diệt công đức" thuộc hành đầu.
THỨC
ở đây chỉ cho "tiền lục thức", công dụng tiếp thu, xuất nhập
"lục cảnh": sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Người
đạo sĩ, chừng nào chưa chuyển thức thành trí, chưa làm chủ được bát thức tâm
vương, chưa tăng tiến bồi dưỡng sức TRI KIẾN VÔ SINH thì hãy còn bị sự phân
biệt, sự chấp nê, sự thị phi nhơn ngã tác động hoành thành. Do vậy mà "tổn
pháp tài" và "công đức" suy mòn dần mất hết. Và cũng do vậy.
Thiền gia rất xem trọng cái TÂM. Thiền gia chủ trương đối với TÂM phải trực
diện với nó, phải nhìn thẳng vào mặt nó mà nhất cử nhất động của nó Thiền giả
phải thấy hết, biết hết. Biết rõ từng nguyên nhân của ý nghĩ, biểu hiện lời nói
và hành động: Đã khởi, đang khởi và sẽ khởi. Biết rõ cả hậu quả của nguyên
nhân, dù còn trong ý niệm. Con người của mình, mình phải biết mình là ai. TÂM
mình, mình phải "trực diện" với nó mọi nơi mọi lúc.
Thiền
gia gọi đó là cách tu: "Trực chỉ nhân tâm"
THI
CA 30
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO BÁT NHÃ PHONG HỀ…
Phiên âm:
Đại trượng phu, bỉnh tuệ kiếm
Bát nhã phong hề kim cang diệm
Phi đản năng thôi ngoại đạo tâm
Tảo tằng lạc khước thiên ma đảm
Dịch
nghĩa:
Chuôi kiếm tuệ, đại trượng phu nắm lấy
Bát nhã gươm, lóe sáng ánh kim cang
Không những xưa, sàm sỡ của "đạo ngoài"
Làm vỡ mật, bọn thiên ma nhếu nháo
TRỰC CHỈ
Tôn
chỉ của đạo Phật, có TUỆ là có tất cả. Quả VÔ THƯỢNG BỔ ĐỀ là đỉnh cao tột của
TUỆ. Quả VÔ THƯỢNG NIẾT BÀN là diệu dụng của TUỆ. Trong tam vô lậu học, GIỚI,
ĐỊNH là hạt, là cây, là cành, là lá mà TUỆ là hoa, là trái. Tu GIỚI, tu ĐỊNH
cốt để có được TUỆ. Hiểu được chân lý đó, người đệ tử Phật chân chính có học
Phật, tu hành không sợ lầm lạc. Tu GIỚI, ĐỊNH phát sanh TUỆ GIÁC là tu đúng
chánh pháp. Gọi là GIỮ GIỚI, gọi là TỌA THIỀN tốn công, khổ luyện, dù phải trải
qua mấy mươi năm, mà không sanh TRÍ TUỆ, không có khả năng nhận thức chân lý,
tư duy về chân lý, đó là tu sai lầm. Nhọc mệt thân tâm không đem lợi ích luống
uổng một đời.
Nói
một cách khẳng định rằng, tu hành mà không phát sanh TUỆ GIÁC thì không nên
theo pháp đó nữa, vì đã sai lạc pháp tu, trồng phải một thứ cây không có hoa
trái thì nên chặt bỏ nó đi.
"Đại
trượng phu" là người phải nắm cho được cái chuôi "kiếm tuệ".
Phải có khả năng sử dụng "gươm" BÁT NHÃ KIM CANG để "tồi tà phụ
chánh", để đối phó ngoại đạo, thiên ma, phải làm cho chúng vỡ mật bay hồn,
khiến cho chúng "chích luân bất phản", tấn công chúng "phiến
giáp bất hoàn". Để "sử tri Phật giáo ta bà chi hữu chủ"!
Dưới
mắt của người chứng đạo, người đệ tử Phật phải bồi dưỡng trí tuệ. Đó là ý
nghĩa: DUY TUỆ THỊ NGHIỆP.
THI
CA 31
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TRUYỀN BÁ CHÁNH PHÁP LÀ MỘT NHIỆM VỤ CAO CẢ
Phiên âm:
Chấn pháp lôi, kích pháp cổ
Bố từ vân hề sái cam lộ
Long tượng xúc đạp nhuận vô biên
Tam thừa ngũ tánh giai tỉnh ngộ
Dịch
nghĩa:
Vang sấm pháp, gióng lên hồi trống pháp
Bủa mây từ, mưa sương ngọt nơi nơi
Nhuận vô biên, làm "Long tượng" cho trời
người
Hạng ngũ tánh, tam thừa đều nhờ và tỉnh ngộ
TRỰC CHỈ
Tu
GIỚI, ĐỊNH, TUỆ để hoàn thành tự giác "Chấn pháp lôi", "Kích
pháp cổ, "Bố từ vân", "Sái cam lộ" là công hạnh hoằng pháp
để lợi lạc chúng sanh. Đó là "tha giác". Đủ hai hạnh "tự
giác", "tha giác" gọi đó là "Giác hạnh viên mãn" là
thành bậc Vô Thượng Chánh Giác, thành Phật. Đó là điểm cao tột, cần đạt đến của
một tu sĩ Phật giáo.
Người
có trí tuệ, có đạo đức, có được sự giác ngộ giải thoát hơn người thường. Kinh
điển ví hạng người đó là "Long tượng". "Long tượng" sức
mạnh hơn "Hương tượng"…
Là một tu sĩ,
trưởng tử Phật, phải học chánh pháp, hành chánh pháp, sống theo chánh pháp và
truyền bá chánh pháp. Được vậy, xứng danh một Thích tử, "tác Như Lai
sứ", "hành Như Lai sự", đóng vai trò Long tượng, khai rừng, xẻ
lối cho chúng sanh, vượt qua rừng vô minh tối tăm nguy hiểm. THI CA 32
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ MỘT LÀ TẤT CẢ, TẤT CẢ LÀ MỘT
---o0o---
Phiên âm:
Tuyết sơn phì nị cánh vô tạp
Thường xuất đề hồ ngã thường nạp
Nhất tánh viên thông nhất thiết tánh
Nhất pháp biến hàm nhất thiết Pháp
Nhất nguyệt phổ hiện nhất thiết thủy
Nhất thiết thủy nguyệt, nhất nguyệt nhiếp
Chư Phật Pháp thân nhập ngã tánh
Ngã tánh đồng cộng Như Lai hợp
Dịch nghĩa:
* Vùng núi tuyết cỏ phì tươi tốt,
Sữa bò thơm sản xuất vị đề hồ
Rất hữu duyên với Phật pháp trên đời
Được thọ dụng, vị đề hồ: chánh pháp
* Trong một tánh, bao hàm hết thảy tánh
Một pháp nầy, chứa cả chất pháp kia
Một vầng trăng, in bóng khắp sông hồ
Trăng vô số, kỳ thực, một trăng duy nhất
Pháp thân Phật tánh ta không khác
Tánh của ta là Phật tánh, Như Lai.
TRỰC CHỈ
Chủng
tánh Đại thừa, nhìn vạn pháp qua tư tưởng liễu nghĩa thượng thừa, hành giả sử
dụng "tuệ nhãn", họ thấy rất rõ chân lý: "một" là "tất
cả". "Tất cả" là "một".
Người
chưa có cơ hội nghiên cứu, tu học Đại thừa nghe qua, họ không tiếp thu dễ dàng
được, còn nói chi bằng lòng chấp nhận. Muốn tìm hiểu vấn đề "một" là
"tất cả" nầy, trước hết nghiên cứu về chân lý: "vạn pháp duyên
sinh" của Phật giáo. "Duyên sinh" nghĩa là vạn pháp không pháp
nào đơn độc tự sinh, mà một sự vật nào đó, đều phải kết hợp nhiều yếu tố và
điều kiện… Bông hồng không thể tự dựng có ra bông hồng. Trái táo không tự dưng
có ra trái táo… Trong trái táo có đất, có nước, có phân xanh, có NPK, có UG, có
"bồ tạt"… có cả mây đen, ánh nắng, cả mặt trời và còn có hình bóng
con người nữa chứ!
Giáo
lý MỘT là TẤT CẢ, phải thấy bằng TUỆ NHÃN với một THIỀN TÂM. Không có THIỀN
TÂM, không có TUỆ NHÃN sẽ không thấy được sự nhiệm mầu của vạn pháp, của đất
trời mà ta đang sinh hoạt.
Vấn
đề Pháp thân chư Phật vào trong tâm tánh ta. Tâm tánh ta và Pháp thân cũng vậy.
Trong ta có Phật. Trong Phật có ta. Khi ta mê thì ta là ta, ta không là Phật,
lúc ta không còn mê, ta đã GIÁC thì ta là Phật, ta không còn là chúng sinh mê
muội tội lỗi nữa. Bởi vì Phật xưa kia, khi còn mê mờ chân lý thì vẫn là một con
người, một chúng sanh. Khi chúng sanh GIÁC, tỉnh thức thì không còn là chúng
sanh nữa mà là Phật. Thế cho nên:
"Nhất
tánh viên thông nhất thiết tánh"
Tánh
Phật và tánh chúng sanh không có ranh giới riêng khác, mà chỉ khác ở điểm MÊ và
GIÁC.
---o0o---THI CA 33
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO PHÁP GIỚI NHẤT CHÂN
---o0o---
Phiên âm:
Nhất địa cụ túc nhất thiết địa
Phi sắc phi tâm phi hạnh nghiệp
Nhất thiết số cú phi số cú
Dữ ngô linh giác hà giao thiệp
Đàn chỉ viên thành bát vạn môn
Sát na diệt khước tam kỳ nghiệp
Dịch nghĩa:
* Đất một cõi cùng với đất hằng hà sa cõi
Cõi nhất chân, không sắc cũng không tâm
Cõi như nhau, không CỰU LẠC, TA BÀ
Đất một cõi là đất hằng hà sa cõi
* Danh văn cú… vốn là danh ngôn giả đặt
Linh giác ta nào có dính dáng chi!
Khảy móng tay, tròn đủ tám vạn pháp môn tu
Trong nháy mắt, dứt sạch A tăng kỳ nghiệp chướng
TRỰC CHỈ
ĐỊA
có nghĩa là cõi, là cảnh giới. Cảnh giới có loại cảnh giới vật chất, cụ thể như
những hành tinh, thiên thể mà các nhà thiên văn học đang khám phá, đang tìm
hiểu về sự cấu tạo, hình thành. Cảnh giới nào có thể có sự sống, cảnh giới nào
không… Theo giáo lý Phật dạy, cảnh giới vật chất cụ thể nầy nhiều lắm, phải
dùng thứ ngôn từ vượt ngoài tính đếm để nói: "Hằng hà sa số". Hằng hà
sa số đã nhiều vô lượng vô biên A tăng kỳ thế giới"… Cái từ nghe như sâu
xa hun hút và ngộp thở ấy, nó nhiều biết chừng nào! Vậy mà, qua cái thấy của
người chứng đạo thì tất cả cõi hay cảnh giới đó, gộp lại trong một từ PHÁP GIỚI.
Rồi qua sự quán chiếu và tư duy, người chứng đạo đánh giá: NHẤT CHÂN.
PHÁP
GIỚI NHẤT CHÂN
Nghĩa
là pháp giới cùng chung một bản thể là CHÂN là NHƯ. Không cảnh giới nào ngoài
cảnh giới nào, không cảnh giới nào tốt hơn, quý hơn, sướng hơn cảnh giới nào.
Vì tất cả đều CHÂN NHƯ, cùng một chất lượng CHÂN NHƯ giống nhau. Do vậy, dưới
con mắt tuệ của người chứng đạo:
"Nhất
địa cụ túc nhất thiết địa".
Ngoài
"cảnh giới" hay "cõi" cụ thể vật chất ấy, còn một thứ
"cảnh giới" một thứ cõi lòng, cái thứ "cõi ở lòng" nầy nó
tác động trực tiếp vào cuộc sống của con người. Đây mới là cảnh giới đáng kinh
sợ, đáng quan tâm để tu học. Phật TÂM của ta vốn trong sáng, thanh tịnh vốn có,
tự thể của Tâm là thể thanh tịnh, trong sáng. Nó là NHẤT CHÂN. Nó không có sầu
muộn, ưu tư, khổ vui… gì gì cả. Thế, nó cũng là một thứ:
PHÁP
GIỚI NHẤT CHÂN
Vậy
mà thực tế, có lúc ta vui, lúc buồn, lúc tham lúc si, lúc không còn muốn sống,
thậm chí có người quyên sinh thật.
Thế
vui khổ do con người. Ta bà hay Cực lạc do con người.
Cảnh
giới thanh tịnh an lành đáng sống hay ô trọc khổ đau không muốn nhìn thấy cõi
đời… cũng do con người. TÂM con người thì TÂM ai cũng như TÂM ai, đều là CHÂN
NHƯ và cùng một bản thể NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI ở lòng ta đó chứ !
Thế
là dưới mắt của THIỀN GIA của người chứng đạo. Pháp giới ngoại cảnh hay pháp
giới nội tâm đều là:
NHẤT
CHÂN PHÁP GIỚI
---o0o---THI CA 34
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG
---o0o---
Phiên âm:
Bất khả hủy, bất khả tán
Thể nhược hư không vô nhai ngạn
Bất ly đường xứ thường trạm nhiên
Mịch tức tri quân bất năng kiến
Dịch nghĩa:
Tâm TĨNH ĐỊNH, có an lành ngay tại chỗ
Chê hay khen, không giận cũng không mừng
Rỗng như hư không lồng lộng sáng trong
Tìm rồi tự hiểu, không chỉ cho ai thấy được
TRỰC CHỈ
Người
thực học, thực tu và chứng đạo thực. Họ có sự an lành giải thoát thực mà người
thường khó biết. Kinh điển Phật gọi đó là: "Bất tư nghì giải thoát pháp
môn". Họ giải thoát và an lành ngay trong lúc nói, nín, động, tĩnh, ngay
khi đi, đứng, ngồi, nằm. Kinh điển Phật gọi qua cái từ: "Bất ly ư đương
xứ".
Trạng
thái an lành, giải thoát đó, là sự biểu hiện của một con người, một THIỀN GIẢ,
một tâm hồn đạt đến trình độ NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG, trước ngoại cảnh khen, chê, lợi,
suy, hủy, dự…
Yếu
tố khiến cho hành giả đạt đến cảnh giới như như bất động ở nội tâm, là phải tư
duy, quán chiếu, thấy cho được TÂM THỂ. Tâm thể vốn rỗng rang, thanh tịnh,
trong sáng như hư không. Hư không không phải là sự sự vật vật, nhưng hư không
không chống cự sự phát huy sinh trưởng của sự vật. Sự vật dù sinh trưởng phát
huy trong hư không nhưng hư không vĩnh viễn là hư không thanh tịnh.
Dữ
kiện và yếu tố tư duy quán chiếu đó, khiến cho hành giả có được sự tự tại an
nhiên.
"Bất khả hủy, bất khả tán"
Hành giả có được cái an vui "bất ly đương
xứ"
---o0o---
THI
CA 35
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ KHÔNG ĐƯỢC MỚI LÀ ĐƯỢC TẤT CẢ
---o0o---
Phiên âm:
Thủ bất đắc, xả bất đắc
Bất khả đắc trung chỉ ma đắc
Ngô tảo tằng kinh đa kiếp tu
Bất thị đẳng nhàn tương cuống hoặc
Dịch nghĩa:
Bỏ không được, lấy lại càng không được,
KHÔNG ĐƯỢC gì, là cái ĐƯỢC của kẻ chân tu
Từ xa xưa, đã nhiều kiếp tôi thực hành
Không ăn xổi, ở suông, nói ra lời dối mị !
TRỰC CHỈ
ĐƯỢC,
MẤT, LẤY, BỎ, THÀNH, BẠI, THÂN, SƠ… là biểu hiện của tâm chấp ngã và chấp pháp,
của phiền não, của vô minh. Chúng là nguyên nhân sanh ra vô vàn đau khổ. Một
người hành đạo giải thoát, luôn luôn cảnh giác hóa giải nó từ ý niệm ban đầu.
Ở
đây tác giả Chứng Đạo Ca Huyền Giác nhắc nhở một điều đơn giản: Không nên ĐƯỢC
một thứ ĐƯỢC nào. Mà nên "Được cái KHÔNG ĐƯỢC". Bởi vì cái chân lý
"vạn pháp duyên sanh" chi phối hết cả rồi, có pháp nào thật đâu để mà
LẤY mà BỎ. Vì vậy, có muốn LẤY, cũng chẳng có gì để lấy. Có muốn BỎ, cũng chẳng
có gì để bỏ. Chỉ còn một con đường tỉnh thức của những kẻ chân tu:
"KHÔNG
ĐƯỢC ấy, là cái ĐƯỢC của kẻ chân tu"
Mong
được Bồ đề Niết-bàn còn không nên, huống chi mong được cái gì khác. Vì Bồ đề,
Niết-bàn không phải đối tượng sở đắc. Vì rằng Bồ đề, Niết-bàn là "không
hư", nhưng cũng không là "thực pháp". Vào vườn hoa, chỉ chăm chú
nhìn một đóa hoa, người đó sẽ không thưởng thức được cái đẹp, thơm của cả vườn
bông hoa thơm đẹp.
Chỉ
có người không được gì hết, mới là người được tất cả, tất cả những gì trong vũ
trụ bao la vô tận.
---o0o---
THI
CA 36
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ TỰ TẠI BẤT TƯ NGHÌ
---o0o---
Phiên âm:
Mặc thời thuyết, thuyết thời mặc
Đại thí môn trung vô ủng tắc
Hữu nhân vấn ngã giải hà tông
Báo đạo Ma Ha Bát Nhã lực
Hoặc thị hoặc phi nhân bất thức
Thuận hành nghịch hành thiên mạc trắc
Dịch nghĩa:
* Khi im lặng, mấy kẻ biết: đó là đang nói
Lúc nói nhiều, có ai hiểu: Chẳng nói gì !
Đúng khi cần, sẽ nói mãi, nói tuôn thao
Không trở ngại, không hề vơi cạn ý
* Có người hỏi: cho biết pháp môn tu chứng
Xin thưa rằng: Ma ha bát nhã là Tông
Việc làm ra, lúc như Thị lúc như Phi
Khi như thuận, lúc như nghịch, trời còn khó biết !
TRỰC CHỈ
Thiền
sư im lặng nhiều, nói ít. Im lặng cả lúc đi, đứng, ngồi, nằm. Sự thật, thấy vậy
mà không phải vậy. Thiền sư là người nói rất nhiều, nói nhiều hơn người thường
có thể hàng vạn lần hơn. Bởi vì lục căn của một thiền sư rất bén nhạy trong
việc thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc… Vì vậy, Tâm ý của thiền sư là một cơ quan tiếp
thu, phân tích, nhận thức và đánh giá vô số vấn đề bởi lục căn đưa vào. Thuật
ngữ gọi đó là "tư duy", "quán chiếu". Cho nên im lặng, thật
sự nói rất nhiều. Nói bằng DIỆU ÂM, QUÁN THẾ ÂM, nói bằng PHẠM ÂM và HẢI TRIỀU
ÂM.
Ngược
lại, có lúc người ta thấy thiền sư nói nhiều, nói thoải mái, kể cả cười
"kha khả" vang cả vườn rừng. Sự thật, trong thời điểm đó, Thiền sư
chả nói gì. Chỉ vì muốn cho đẹp lòng mọi người mà nói, mà cười. Nói cười mà
lòng thường chua xót, vì đã nói, đã chỉ bày cho chúng sanh những thứ không đáng
giá, không đúng ý mà mình muốn tặng cho mọi người về chánh pháp của Như Lai.
Đó
là nói rất nhiều, mà như không có nói gì. Thành tựu, thâm nhập cái
"lực" của Bát Nhã Ba La Mật, con người có "sức" trí tuệ
vượt hơn và khác hẳn hơn với lối hiểu biết qua những khuôn sáo,
nghi lễ, cố chấp tầm thường. Do vậy, người thường khó nhận thức đúng việc nói
việc làm của người thể nhập "Ma ha Bát Nhã". Cái đúng của Thiền sư,
người thường nhìn hành động của Thiền sư, có việc thấy đúng, có việc thấy như
sai. Có khi thấy thuận, có lúc thấy trái… tại vì người thường chưa rời
"chấp".
Chấp
về "tập tục", chấp về "lễ nghi" chấp về "danh
ngôn"… Đúng với ý "chấp" của họ thì họ cho THỊ là THUẬN. Trái
với ý "chấp" của họ thì họ bảo PHI là NGHỊCH. Cho nên, Thiền sư phải
là người:
"Hoặc THỊ
hoặc PHI nhân bất thức
Thuận hành, nghịch hành thiên mạc trắc"
---o0o---
THI
CA 37
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VỀ TÂY THIỀN TỨ THẤT, ĐÔNG ĐỘ NHỊ
TAM
Phiên
âm:
Kiến Pháp tràng lập tông chỉ
Minh minh Phật sắc tào khê thị
Đệ nhất Ca Diếp thủ truyền đăng
Nhị thập bát đại tây thiên ký
Pháp đông lưu nhập thử độ
Bồ Đề Đạt Ma vi sơ tổ
Lục đại truyền y thiên hạ văn
Hậu nhân đắc đạo hà cùng số
Dịch
nghĩa:
* Dựng cờ pháp, lập ra tông chỉ
Ý của Tào Khê, y lời Phật bảo ban
Sự truyền đăng, ngài Ca Diếp đứng đầu
Xét lịch đại, hai tám đời sử Tây Thiên ghi rõ
* Khi chánh Pháp truyền sang Đông Độ
Bồ đề Đạt Ma sơ tổ tông Thiền
Truyền sáu đời y bát để làm tin
Người đắc đạo đời sau không đếm hết
TRỰC
CHỈ
"NIỆM HOA ĐỐN NGỘ THỪA ĐƯƠNG LINH
THỨU CHẤN TÔNG PHONG
Y BÁT CHÂN TRUYỀN VĨNH KẾ HUỲNH
MAI HƯNG ĐẠI ĐẠO"
Đọc hai câu đối trên gợi trong trí độc giả về
truyền thừa chánh pháp của đức Phật qua hai giai đoạn lịch sử ở hai quốc gia:
Ấn Độ và Trung Hoa.
"Pháp bổn vô pháp pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp"
Đó là lời phó chúc của Phật truyền bảo cho ông
Ca Diếp về "cách nhìn vạn pháp" trong suốt quá trình tu tập. Thế là
ông Ca Diếp lãnh sứ mệnh "tục diệm truyền đăng" để rồi người đời sau
gọi ông là SƠ TỒ truyền thừa chánh pháp ở Ấn Độ. Người ta gọi ông Ca Diếp là
"sơ tổ" phái "thiền tông" là nói sai rồi, đừng có nghe mà
phải học:
"Đệ nhất Ca Diếp thủ truyền đăng
Nhị thập bát đại Tây thiên ký…"
Hai mươi tám đời tiếp tục hoằng truyền chánh
pháp ờ Ấn Độ thời đó. Danh sách dưới đây:
1. Tổ Ma Ha Ca Diếp
2. Tổ A Nan
3. Tổ Thương Na Hòa Tu
4. Tổ Ưu Ba Cúc Đa
5. Tổ Đề Đa Ca
6. Tổ Di Da Ca
7. Tổ Bà Tu Mật
8. Tổ Phật Đà NAN Đề
9. Tổ Phục Đà Mật Đa
10. Tổ Hiếp Tôn Giả
11. Tổ Phú Na Dạ Xa
12. Tổ Mã MINH
13. Tổ Ca Tỳ Ma La
14. Tổ Long Thọ
15. Tổ Ca Na Đề Bà
16. Tổ La Hầu La Đa
17. Tổ Tăng Già NAN Đề
18. Tổ Già Da Xá Đa
19. Tổ Cưu Ma La Đa
20. Tổ Xà Dạ Đa
21. Tổ Bà Tu Bàn Đầu
22. Tổ Ma Noa La
23. Tổ Hạc Lặc Na
24. Tổ Sư Tử
25. Tổ Bà Xá Tu Đa
26. Tổ Bất Như Mật Đa
27. Tổ Bát Nhã Đa La
28. Tổ Bồ Đề Đạt Ma
Kinh sách Phật thường gộp chung trong một từ
Hán, nói theo toán học là "Tây thiên tứ thất". Sau đây, ta tìm hiểu
về "Đông độ nhị tam" qua thi ca:
"Pháp đông lưu nhập thử độ
Bồ đề Đạt Ma vi sơ tổ
Lục đại truyền y thiên hạ văn
Hậu nhân đắc đạo hà cùng số"…
Khi Phật pháp sang đông độ, tức Trung Hoa, thì
Bồ đề Đạt Ma là người đem chánh pháp của đức Phật đầu tiên truyền bá ở Trung
Hoa. Người sau gọi Bồ đề Đạt Ma là "Sơ Tổ". Tiếp theo là "Lục
đại truyền y", nghĩa là sáu đời tiếp theo vẫn còn giữ cái truyền thống
truyền trao y bát để làm "chứng tín" cho vai trò và nhiệm vụ kế thừa
cho đến đời sau là Lục Tổ Huệ Năng.
Dưới đây là danh sách "Lục đại truyền
y".
- Tổ Bồ Đề Đạt Ma
- Tổ Huệ Khả
- Tổ Tăng Xán
- Tổ Đạo Tín
- Tổ Hoằng Nhẫn
- Tổ Huệ Năng
---o0o---
THI
CA 38
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO QUA VẤN ĐỀ CHÂN VỌNG HỮU VÔ
Phiên âm:
Chân bất lập vọng bổn không
Hữu vô câu khiển bất không không
Thập lục không môn nguyên bất trước
Nhất tánh Như Lai thể tự đồng
Dịch nghĩa:
* Chân không thực, lấy chân đâu để lập?
Vọng không CHÂN, tìm vọng ở nơi nao?
Có và KHÔNG, xóa sạch chớ để lòng
Có không thật, KHÔNG không hoàn toàn rỗng
* Mười sáu món (1), gọi là KHÔNG, không dính dáng
TRỰC CHỈ
Bước
vào đạo Phật, học đạo, hành đạo, người ta thường quan tâm về CÓ, KHÔNG, TỘI,
PHƯỚC, THIỆN, ÁC và cao hơn một bậc là vấn đề CHÂN VỌNG.
Người
ta hướng về những gì gọi là CHÂN và mong mõi tìm cầu CHÂN, tha thiết muốn CHỨNG
được cái gọi là CHÂN ấy. Đã thích CHÂN thì người ta cũng rất sợ VỌNG. Họ bảo
rằng: "Tu hành phải tĩnh tâm, quán chiếu tâm thường xuyên để mà DIỆT VỌNG.
Chừng nào DIỆT HẾT VỌNG thì được CHÂN và sẽ chứng nhập CẢNH GIỚI CHÂN NHƯ… có
được Niết-bàn !"
Lý
lẽ đó, người học Phật chưa sâu, khó tìm thấy chỗ "phi chân lý". Cho
nên có thể có rất nhiều người thích nghe thứ giáo lý "thùng rỗng kêu
to" như vậy.
Qua
cái thấy của người chứng đạo:
CHÂN
không thật, lấy CHÂN đâu để lập?
CHÂN
không tự thể, lấy gì để LẬP cái gọi là CHÂN? Đối với VỌNG thì:
"VỌNG
không CHÂN, tìm VỌNG ở nơi nao?"
VỌNG
không CHÂN nghĩa là tự nó không có thực thể thì lấy gì để DIỆT?
Thấy
được vấn đề VỌNG CHÂN không tự thể, hành giả sẽ "rãnh" hết những ý
niệm TRỪ và DIỆT. Ý niệm CẦU và CHỨNG hành giả trở thành "nhàn đạo
nhân".
Vấn
đề CÓ, KHÔNG cũng vậy. CÓ là CÓ cái gì? KHÔNG là KHÔNG cái gì? Người chứng đạo
không hề phủ nhận sự hiện diện của vạn pháp mà cũng không khẳng định vạn pháp
là CÓ theo kiểu thấy thông thường.
Người
chứng đạo xóa sạch hết ý niệm CÓ, KHÔNG. Vì CÓ, không tự thể đó là CÓ mà không.
KHÔNG, không tự thể nhưng không phải vĩnh viễn KHÔNG như sừng thỏ lông rùa.
Hiểu chân lý đó hành giả không còn quan tâm vấn đề CÓ và KHÔNG.
HỮU
VÔ CÂU KHIỂN BẤT KHÔNG KHÔNG
Người
đạt đạo không những không vướng mắc vào một thứ không mà hai không, ba không…
cho đến mười lăm không, mười sáu… thứ không cũng đều không vướng mắc. Tất cả
chư Như Lai thành tựu quả vị của mình cũng từ sự thể nhập chân lý thanh tịnh
rỗng rang vô trụ vô trước ấy.
---o0o---
THI
CA 39
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TÂM PHÁP CĂN TRẦN
Phiên âm:
Tâm chị căn, Pháp thị trần
Lưỡng chủng du như cảnh thượng ngân
Ngân cấu tận trừ quang thỉ hiện
Tâm Pháp song vong tánh tức chân
Dịch nghĩa:
* Tâm chủ động, nảy sinh nhiều thọ tưởng
Gọi là CĂN, vì hay sinh chi mạt quả hoa
Pháp là sơn lâm, là đại địa giang hà
TRẦN là BỤI, vì chúng có thể làm nhiễm ô tâm tánh
* Căn TRẦN ấy, chỉ là thứ bụi mờ trên kính
Bụi lau rồi, thể gương sáng hiện ra
TÂM vốn KHÔNG, CẢNH vốn TỊCH tự bao giờ
Tâm vắng lặng, Cảnh trở thành CHÂN NHƯ thanh tịnh
TRỰC CHỈ
CĂN
có sáu: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý. Đó là cơ quan để cho sáu thức tâm
vương biểu hiện thông qua sáu căn ấy.
TÂM
được biểu hiện ra sáu công dụng: Đó là tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc và biết.
THỨC
tâm Y căn mà biểu hiện. Căn là chỗ sở y của thức tâm, cho nên TÂM không ngoài
sáu căn. Sáu căn không ngoài TÂM: TÂM là CĂN vậy.
PHÁP
tóm chung có sáu dạng, đó là: sắc, thanh, hương vị, xúc và pháp. Sáu món nầy
đại biểu cho tất cả hiện tượng vạn hữu trước mắt ta. Tánh của chúng vốn không
nhiễm ô, nhưng vì chúng mà sáu căn của con người có thể nhiễm ô cho nên gọi chúng
là TRẦN. TRẦN không ngoài các pháp, các pháp là những dữ kiện sanh ra TRẦN.
PHÁP là TRẦN vậy.
CĂN
và TRẦN vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả sanh khởi phiền não vô minh. Nguồn
gốc của mọi nguyên nhân đau khổ. Nhưng truy nguyên, chúng chỉ là một thứ
"huyễn hư" không tự tánh. Đối với tâm tánh trong sáng, rỗng rang
thanh tịnh của con người, chúng chỉ là thư bụi bặm phủ trên thể gương sáng mà
thôi. Bụi lau rồi thì thể sáng tự khắc hiện ra.
TÂM
con người, theo giáo lý Phật, từ xưa đến nay thể của nó vốn trong sáng rỗng
rang thanh tịnh. Cảnh bên ngoài, sắc, thanh, hương, vị, xúc… tánh của chúng vốn
lặng lẽ và vô tình, nào có gây nguyên nhân đau khổ cho ai! Hành giả hồi quan
phản chiếu nhận lấy TÂM KHÔNG vốn có, nhận biết CẢNH TỊCH vốn vậy, hành giả
sẽ?iễn ly được vọng tâm đắm nhiễm sai lầm chân lý trong cuộc sống hàng ngày.
Bấy giờ hành giả sẽ sống trong "chân tâm thường trú", sống trong
"thể tánh tịnh minh" vốn có của mình.
"TÂM
PHÁP song vong tánh tức chân".
Và
hành giả với tâm trạng an nhiên thanh thoát ngâm nga:
"… Căn Trần ấy chỉ là bụi bờ trên kính
Bụi lau rồi gương sáng hiển hiện ca
Tâm vốn không, cảnh vốn tịnh tự bao giờ
Tâm vắng lặng,
cảnh là bầu trời thanh tịnh"
THI
CA 40
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO
NỖI ƯU TƯ VỀ PHÁP NHƯỢC MA CƯỜNG
Phiên âm:
Ta mạt pháp! Ác thời thế!
Chúng sinh phước bạc nan điều chế
Khứ thánh diêu hề tà kiến thâm
Ma cường pháp nhược đa oan hại
Văn thuyết Như Lai đốn giáo môn
Hận bất diệt trừ như ngỏa toái
Dịch nghĩa:
Ôi! Mạt pháp, cõi đời nhiều trược ác
Những chúng sinh phước mỏng khó dạy răn
Cách Phật lâu xa, tà kiến nặng sâu dần
Chánh pháp yếu, ma quân mạnh, gây nhiều oan hại
Nghĩ chánh pháp của Như Lai Đốn Giáo
Tiếc! Chưa được trừ tà kiến vụn nát như ngói tan!
TRỰC CHỈ
Phật
pháp là CHÁNH PHÁP. Chánh pháp vô thỉ dĩ chí vô chung, không có MẠT gì cả. Cũng
như LỬA vô thỉ đến nay đã nóng, đang nóng, dĩ chí vô chung LỬA sẽ mãi mãi là
nóng. Khái niệm "mạt pháp" thuộc khái niệm nhận thức của tâm linh.
Văn nhi tư, tư nhi tu một cách tinh tấn dũng mãnh đem lại hiệu quả như ý một
trăm phần trăm, gọi đó là "thời kỳ chánh pháp". Nghe mà không suy
nghĩ, nghe hời hợt, qua loa chiếu lệ, tin càn, mù quáng, có tu mà ít có người
đạt đạo. Người ta gọi là "tượng pháp". Chữ "tượng" có nghĩa
là "na ná" giống như tu dữ lắm, nhưng vì tu sai chánh pháp cho nên
không đem lại kết quả. "Mạt" là ngọn, là sự cuối mùa, gió vẫn còn lai
rai, nhưng không sập nhà được nữa. Sầu riêng còn bán, nhưng sượng ngắt chẳng ra
gì…
Sự
tu hành của những tâm trạng lơ mơ, có hình thức, thân, khẩu, ý chẳng tu sửa,
chẳng trau dồi, trí tuệ chẳng mở mang. Ở chùa chỉ làm cái việc thỉnh chuông
ngày hai buổi, kinh kệ ê a rên rỉ vài lần. "Đạo nghiệp bất cần, công quả
vô nhân khắc tựu". Tóm lại, Pháp ở nội tâm của người "mạt",
không phải chánh pháp của Phật có "mạt".
Chánh
pháp trong lòng "mạt" thì ta sẽ là người ở trong "cõi đời nhiều
trược ác", nghĩa là ta sẽ không có được sự an lành, thanh thoát, tự tại
trong cuộc sống, gọi đó là "ác thời thế". MA ở lòng ta
"cường", Phật pháp ở lòng ta "nhược". Ta không thương nhớ
Phật, không tĩnh thức, trí tuệ bị vùi lấp bởi vô minh, cho nên sự hiểu biết sai
quấy, mê tín dị đoan, duy tâm siêu hình… gọi chung là "tà kiến" ở
lòng ta ngày càng sâu nặng nó làm cho tâm hồn, cuộc sống của ta quá nhiều phiền
muộn khổ đau.
Khi
tình cờ nghe đọc, nhớ chánh pháp Như Lai về "Đốn Giáo" bừng tỉnh ra,
thì ta nhận ra rằng: Rừ lâu nay, cuộc sống của mình bị vô minh tà kiến dẫn dắt
đi "lầm đường". Giờ này tĩnh ngộ, dõng dạc, đường hoàng thốt:
"Nghe
chánh pháp của Như Lai về Đốn Giáo
Tiếc! Chưa được
trừ tà kiến vụn nát như ngói tan!"
THI
CA 41
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TÂM LÀ ĐỘNG CƠ TẠO NGHIỆP
Phiên âm:
Tác hại tâm, ương tại thân
Bất tu oan tố cánh vưu nhân
Dục đắc bất chiêu vô gián nghiệp
Mạc báng Như Lai chánh pháp luân
Dịch nghĩa:
Dấy khởi niệm, dữ lành TÂM chủ động
Nghiệp hiện hành, THÂN chịu hậu quả kia
Chớ trách ai, đừng đổ lỗi oan khiên nào!
Nghiệp vô gián, muốn tránh xa hãy tu học Như Lai chánh
pháp.
TRỰC CHỈ
Đạo
Phật chú trọng TÂM, Ý, THỨC. Tâm, ý, thức gọi có ba tên khác nhau là tùy theo
diệu dụng biểu hiện ở môi trường, ở vị trí và hoàn cảnh khác nhau mà TÂM là
then chốt. TÂM là chủ động cho mọi hành vi và ngôn ngữ biểu lộ trong cuộc sống
hàng ngày. Không ai thấy được TÂM, nhưng người ta có thể biết được tâm của
mình, kể cả tâm của người khác.
TÂM
có thể xây dựng cho con người những quả phúc an lành. Trời, thanh văn, Duyên
giác, Bồ-tát thậm chí địa vị Như Lai Vô thượng Bồ đề. Ngược lại, Tâm cũng tạo
cho con người quả khổ gớm ghê như: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà con người
mang chịu ngay trong cuộc sống trên cõi đời nầy.
"Tác
tại tâm, ương tại thân"
Dấy
khởi niệm dữ làm tâm là chủ. Nghiệp thiện, ác hiện hành ra thân miệng. Nếu hậu
quả là xấu, tội lỗi thì thân mang chịu khổ đau. Với chân lý nhân quả trong đạo
Phật, hành động thiện hay ác của mình làm, mình thọ lấy hậu quả khổ hay vui,
không ai, cũng không do sự oan khiên thù hận của ai đó đem gán ép cho ta được,
dù là của "thân linh, thánh hiền" của những tâm hồn nhẹ dạ cả tin.
Dựa
trên chân lý NHÂN QUẢ, mọi người có thể xây dựng cho mình một thế giới an vui,
hạnh phúc, tự tại, khinh an, giải thoát giác ngộ Niết-bàn tịnh lạc… Muốn làm
được việc đó đừng phỉ báng chánh pháp của Như Lai mà phải học chánh pháp, hành
theo chánh pháp và phải sống theo chánh pháp ngay bằng với giáo lý của THỪA mà
mình tu học hành trì. Giáo lý Phật có "ngũ thừa", như năm công ty du
lịch sẵn sàng đón đưa khách gần xa, tùy số tiền và ý muốn của khách hàng mua vé
đi du lịch vậy. Thiện, ác do tâm. Vui khổ do Tâm…
"Chớ
trách ai, đừng đổ lỗi oan khiên nào
Nghiệp vô gián
muốn tránh xa hãy tu học Như Lai chánh pháp".
THI
CA 42
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO VUI BẰNG CÁI VUI CỦA CHÍNH MÌNH
Phiên âm:
Chiên đàn lâm vô tạp thọ
Uất mật sum trầm sư tử trụ
Cảnh tĩnh lâm nhàn độc tự du
Tẩu thú phi cầm giai viễn khứ
Dịch nghĩa:
Rừng cây quí, thuần chiên đàn không tạp
Sư tử vương, một mình trụ chốn thâm u
Cảnh sơn lâm tịch mịch tự nhàn du
Loài cầm thú tầm thường đành cao bay xa chạyhết.
TRỰC CHỈ
Người
có ý chí, quyết đi con đường giải thoát, giác ngộ, tự lập chí, tạo cho mình một
hoàn cảnh sống, một thú vui riêng, một môi trường tiêu khiển và giải trí không
giống với cách tổ chức, các sinh hoạt của những bật phong lưu, những hàng quí
phái giàu sang trong xã hội.
Tác
giả Chứng Đạo Ca phác họa cách tự vui của mình: Vui với cảnh thâm u, tịch mịch,
vui với cây cỏ núi rừng, quạnh quẽ cô liêu. Rồi người tu sĩ rảo bước theo mé
suối chân rừng, khi nhìn cảnh chiều tà ác vàng vừa khuất núi, lúc thưởng thức
trăng thanh gió mát; khi thiền định dưới cội tùng xanh; lúc quán chiếu sự mầu
nhiệm về chân lý duyên sinh của vạn tượng sum la muôn hồng nghìn tía.
Người
tu sĩ không có thì giờ nhiều trong việc thù tạc vãng lai, tiếp nhân xử sự và
thường tự nhủ:
"…
Thường độc hành, thường độc bộ…"
Người
tu sĩ đâu có dễ tìm "Đạt giả để đồng đu…" thôi thì"
"Điệu cổ thần thanh…
Mạo tụy cốt
cang nhân bất cố".
THI
CA 43
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CHÁNH GIÁO, TÀ GIÁO CÓ GIÁ TRỊ RIÊNG CỦA NÓ
Phiên âm:
Sư tử nhi chúng tùy hậu
Tam tuế tiện năng đại hao hống
Nhược thị giả can trục Pháp vương
Bách niên yêu quái hư khai khẩu !
Dịch nghĩa:
Giống sư tử, sinh ra con, nòi sư tử
Ba tuổi năm, gầm rung chuyển núi rừng xanh
Bầy chó hoang, vờn theo gót đấng Pháp vương
Trăm năm sủa, vẫn là tiếng "gâu gâu" đáng
ghét!
TRỰC CHỈ
Sư
tử con vẫn là giống nòi sư tử, ba năm tuổi đã biết gầm. Sư tử mà gầm thì rung
chuyển cả núi rừng, vang dội khắp hang sâu động hiểm.
Chó
hoang, chó chóc dù có lớn tuổi gấp năm, gấp bảy lần sư tử đi nữa, chó chóc vẫn
là chó chóc. Dù chó chóc sủa suốt trăm năm, sủa vua, sủa đấng Giác ngộ, sủa
Phật vẫn là tiếng chó chóc, sủa chẳng có chút giá trị nào mà còn chói tai những
ai nghe chúng sủa.
Tác
giả Chứng Đạo Ca vạch ra rằng: Giá trị của Chánh pháp vô cùng vĩ đại. Chánh
pháp đánh thức những ai còn mê mộng, chìm đắm trong sông ái biển mê. Chánh pháp
réo gọi những khách phong trần đang say mê lợi danh vật dục. Chánh pháp phá tan
những tà thuyết mê tín dị đoan, hoang đường, ảo tưởng của những tâm hồn yếu
đuối, nhẹ dạ cả tin. Chánh pháp là ngọn đuốc sáng hướng dẫn cho ai đã lạc lối
lầm đường, có điểm tựa để quay trở lại con đường quang minh chánh đại. Kinh
điển Phật thường ví chánh pháp của Phật nói như tiếng gầm của sư tử.
"…
Ba tuổi năm gầm rung chuyển núi rừng xanh…"
Những
tà giáo, phi chánh pháp dù có tuyên truyền rao giảng trải nhiều tháng năm, tốn
nhiều công sức cũng không đem lại lợi ích cho ai. Tệ hơn nữa, những tà giáo ấy
nhuộm bẩn tâm hồn trong trắng của những người có tâm lành, có lòng tin, lẽ ra
phải trong sáng.
Chó
dù sủa vua, vẫn là tiếng chó sủa. Suốt trăm năm cũng vẫn là tiếng "gâu
gâu" của chó chóc, không vì sủa lâu năm mà tiếng chó chóc tăng thêm giá
trị.
"… Bầy chó hoang vờn theo gót đấng Pháp vương
Trăm năm sủa vẫn là tiếng "gâu gâu" đáng
ghét!"
THI
CA 44
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO KHÔNG ĐEM PHÁP CỨU CÁNH DIỄN RA PHƯƠNG TIỆN
Phiên âm:
Viên đốn giáo vật nhân tình
Hữu nghi bất quyết trực tu tranh
Bất thị sơn tăng sính nhân ngã
Tu hành khủng lạc đoạn thường khanh
Dịch nghĩa:
Pháp Viên Đốn, thuyết phải là trực thuyết
Ai hoài nghi, mời tranh luận phân minh
Không tự tôn "thầy núi" để lòe đời
Chấp Nhân Ngã dễ rơi vào hố sâu THƯỜNG ĐOẠN.
TRỰC CHỈ
Giáo
lý của đạo Phật có nhiều tư tưởng hệ: Thông giáo, biệt giáo, đốn giáo, viên
giáo… Có hệ giáo lý khế cơ không khế lý. Có hệ giáo lý; khế lý không khế cơ.
Người thuyết pháp phải biết vận dụng "tứ tất đàn". Lúc nào vận dụng
"thế giới tất đàn". Lúc nào chỉ phải nói "đệ nhất nghĩa tất
đàn" mà không được vận dụng…
Người
nói pháp "đủ bản lĩnh" ứng cơ tiếp vật. Người nghe pháp cũng phải
thành thật mà nghe và phản quán, tự đặt mình thuộc đối tượng nào? Thừa nào
trong ngũ thừa? Giáo nào trong ngũ giáo? Chủng tánh nào trong ngũ chủng tánh?
Khi
thuyết về Đốn Giáo, pháp sư không nên vận dụng, hạ thấp thành giáo lý "khế
cơ" để đáp ứng cho sống đông người. Giáo lý Đốn Giáo dành cho người
"Đại thừa", có chủng tánh Đại thừa nghe và tu học lợi ích rất lớn.
Tuy nhiên, pháp sư có thể bị công kích, phán đối, thậm chí hủy báng… Nếu gặp
trường hợp như thế, thì pháp sư hãy "mời để thảo luận, trao đổi" hy
vọng, cởi mở mối nghi của riêng ai đó. Phần Pháp sư phải giữ lập trường:
"Viên đốn giáo vật nhân tình"
"Thuyết pháp Viên đốn phải là trực thuyết"
"Ai hoài nghi, mời tranh luận phân minh…"
Có
lẽ tác giả Chứng Đạo Ca cũng đã nếm mùi cay đắng trong những tháng năm"
tiếp nhân xử sự" trong quá trình hành đạo thuyết pháp rồi.
"Bất thị sơn tăng sính nhân ngã
Tu hành khủng lạc đoạn thường khanh
Không tự tôn, thầy núi để lòe đời
Chấp nhân ngã dễ rơi vào hố sâu Thường Đoạn".
Quả
là lời thiết tha như khẩn khoản và "xuống nước" vì sự nói thẳng về
pháp Viên Đốn của mình. Tác giả Chứng Đạo Ca nói rằng mình rất sợ sự tự cao,
ngã mạn, vì hành động đó dễ rớt vào Chấp Thường Đoạn. Điều mà tác giả không dám
làm và không bao giờ làm !
THI
CA 45
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO ĐÚNG VÀ SAI CỦA TỤC ĐẾ KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ CHÂN THẬT
Phiên âm:
Thị bất thị, phi bất phi
Sai chi hào ly thất thiên lý
Thị tắc long nữ đốn thành Phật
Phi tắc thiện tinh sanh hãm trụy
Dịch
nghĩa:
Gọi là THỊ,
không tướng mạo lấy chi làm chuẩn!
Bảo rằng PHI, không có chuẩn, biết cứ vào đâu?
Ngạn nhữ rằng: "nhân mà sai suyển một ly
Thì quả sẽ, lệch mục tiêu… vạn dặm"
Dựa nhân quả,
quyết định SAI hay ĐÚNG
Nhân tốt lành, hoa quả mới sum sê
Rõ là sai, Thiện tinh, con Phật đọa A tỳ…
Chắc chắn đúng, Long nữ, chứng Bồ-đề trong nháy mắt.
TRỰC CHỈ
THỊ
có nghĩa là đúng, phải. PHI có nghĩa là sai, quấy. Có thể nói THỊ, PHI là vấn
đề chót lưỡi đầu môi của mọi người trong cuộc sống hàng ngày. Tất cả mọi người
đều có thể tưởng rằng vấn đề THỊ PHI là việc tầm thường cho nên ai cũng có
quyền nói THỊ hoặc nói PHI. Ai cũng có quyền khen tặng hay phê phán kẻ khác một
cách dễ dàng. Người được khen tặng, tâng bốc rất dễ bằng lòng, đắc chí. Người
bị phê phán, chê bai rất dễ thối chí nản lòng thậm chí đâm hoang mang, sợ sết.
Dưới
mắt của người Chứng Đạo, không phải vậy. Được khen hay bị chê đều phải cân
nhắc, phải sử dụng lý trí, nhận xét khách quan vấn đề. KHEN, ai khen? CHÊ, ai
chê? Người khen là hạng người nào? Người chê là hạng người nào? Dựa trên tiêu
chuẩn nào để khen, để chê, để nói đúng, nói sai. Sự thật, THỊ và PHI không ai
tìm ra được hình mạo, dáng vẻ của thị phi. Vậy thì vấn đề thị phi không phải dễ
đánh giá, dễ nói trên đầu môi chót lưỡi mà người ta tưởng là ai cũng có thể nói
phê phán ĐÚNG, SAI dễ dàng.
Cái
thấy của người Chứng Đạo: THỊ PHI không có dáng vẻ nhìn mạo, nó không có cái
"tướng thực" cho nên trên cõi đời không có nhiều người đủ tư cách, có
trí tuệ, chân chính, sự xét đoán mới đáng tin cậy. Cao hơn một bậc, người tu sĩ
phải dựa trên chân lý NHÂN QUẢ để làm chuẩn cho THỊ và PHI. Lời nói, việc làm
đem lại hậu quả lợi lạc thật sự, an ổn thật sự, hạnh phúc thật sự và giải thoát
thật sự. Lời nói, việc làm đó là THỊ. Ngược lại, dù có tán thán, có tâng bốc
qua cửa miệng của đa số người cùng bào chuốt, ngợi khen, dưới cái thấy của
người chứng đạo, đó vẫn là PHI.
"… THỊ tắc Long nữ đốn thành Phật
PHI tắc Thiện tinh sanh hãm trụy…"
THI
CA 46
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO GIÁ TRỊ CỦA TU SĨ LÀ HÀNH GIẢ KHÔNG LÀ HỌC GIẢ
Phiên âm:
Ngô tảo niên lai tích học vấn
Diệc tằng thảo sớ tầm kinh luận
Phân biệt danh tướng bất tri hưu
Khước bị Như Lai khổ ha trách
Sổ tha trân bảo hữu hà ích
Nhập hải toán sa đồ tự bì
Tùng lai tắng đắng giác hư hành
Đa niên uổng tác phong trần khách
Dịch
nghĩa:
Trong quá khứ,
tôi mang danh nghe nhiều học rộng
Từng dịch kinh, giải luận bấy lâu nay
Phân biệt danh ngôn, nghĩa thú chữa tinh tường
Như Lai quở: chỉ là người đếm bạc
Vào kho bạc,
đếm không công vô ích
Cát biển mênh mong, tính số để mà chi!
Hiểu biết suông, lắm học vị có ra gì!
Lặng nhặng mãi, chỉ là khách phong trần nổi trôi
Theo dòng năm tháng.
TRỰC CHỈ
Văn
nhi tư, tư nhi tu là tiến trình, một hệ thống học tu trong đạo Phật. Thông
thường, giáo lý kinh điển Phật dạy: Tu phải học. Học hiểu chân lý, để phân biệt
đâu tà, đâu chánh, đâu chân, đâu ngụy, thế nào là Đại, thế nào là Tiểu, thế nào
là Thiên, thế nào là Viên. Cho nên người ta ví: Học như đôi mắt, tu như hai
chân. Muốn đi đến đích nhờ hai chân khỏe mạnh đã đành nhưng nếu không có đôi
mắt sáng thì đôi chân khỏe cũng không thỏa mãn được sự mong cầu đến đích. Đại
Trí Văn Thù và Đại Hạnh Phổ Hiền, hai vị Bồ-tát được biểu trưng cho giáo lý TRI
HÀNH trong đạo Phật. Tri hành hợp nhất, chắc chắn đường tu sẽ thành công viên
mãn.
Qua
cái thấy của người chứng đạo, tri chưa sâu sắc tinh tường, chưa được hành, hoặc
tri mà không hành chỉ làm "đau lòng Phật" sẽ bị Phật quở trách cho:
Rằng vào biển đếm cát, vào kho đếm bạc không công, là việc làm của người không
thực tế trong cuộc sống, làm những việc vô ích ấy, ai khen. Rốt cuộc,
"nhất đán vô thường…" Ngoảnh nhìn lại cuộc đời những năm tháng trôi
qua thì chính mình chỉ là khách phong trần dày gió dạn sương, trôi nổi theo
dòng thời gian, năm tàn tháng lụn không đem lại cho bản thân một sự an lạc nào!
Trên
bước đường tu học theo đạo Phật, "Hành giả" mới đem lại sự an lạc,
giác ngộ, giải thoát cho người tu sĩ. Học giả, học để trích cú tầm chương, chỉ
là người phân biệt danh ngôn, lãng mạn hơn, đem sở học biến thành trò tiêu
khiển: "ngâm phong vịnh nguyệt". Bí quyết của sự tu hành, của sự giải
thoát, giác ngộ, của sự nhận thức chân lý với cách nhìn vạn pháp thì nói rặc
những thứ bọt bèo, bìa chéo, rẻ rề!…
Cái
nhìn của người chứng đạo, tác giả Chứng Đạo Ca, KHẤT SĨ mới quý. Thạc sĩ, tiến
sĩ chỉ quý ở thế gian và với thế gian mà thôi. Trong đạo Phật không quý văn
bằng, học vị. Thời Phật tại thế, Phật dạy cho những người ngoại cấp, không học
vị văn bằng vẫn thành công trong giải thoát giác ngộ. Ở Đông độ, Lục Tổ Huệ
Năng được người đời kính quý tôn thờ… cũng chẳng văn bằng học vị.
Thảo
nào tác giả Chứng Đạo Ca tự trách:
"Ngô
tảo niên lai…"
THI
CA 47
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CHỦNG TÁNH TÀ, CĂN TÁNH HẠ LIỆT, KHÓ HỌC, HÀNH VÀ
CHỨNG ĐẠO
Phiên âm:
Chủng tánh tà, thố tri giải
Bất đạt Như Lai viên đốn giáo
Nhị thừa tinh tấn vật đạo tâm
Ngoại đạo thông minh vô trí tuệ
Diệc ngu si, diệc tiểu ngải
Không quyền chỉ thượng sinh thực giải
Chấp chỉ vi nguyệt uổng thi công
Căn cảnh pháp trung hư niết quái
Dịch nghĩa:
Tà chủng tánh,
thường hiểu sai chánh giáo
Pháp ĐỐN VIÊN; Như Lai dạy khó tiếp thu
Kém đạo tâm, tinh tốn, ấy Nhị thừa
Hàng ngoại đạo, thông minh, không trí tuệ
Còn một hạng
ngu si ấu trễ
Nhìn ngón tay, cho đã thấy trăng rồi
Phí công tu, vì hiểu biết quá ngây thơ
Căn và cảnh, họ biết mơ hồ, như người bệnh lòa đôi
mắt.
TRỰC CHỈ
Giáo
lý của đạo Phật về "bình đẳng môn" thì tất cả chúng sinh là Phật, tất
cả chúng sinh sẽ thành Phật. Tuy nhiên về "sai biệt môn" thì căn cơ
chủng tánh là tiêu chuẩn, thước đo để đoán định sự thành công sớm hay muộn trên
con đường đi đến đích giác ngộ giải thoát. Người có chủng tánh ngoại đạo khó
tiếp thu giáo lý liễu nghĩa thượng thừa. Họ là người theo cái đạo "cầu bên
ngoài" trông chờ ỷ lại nơi sự giúp đỡ, che chở của tha nhân, của qủy thần,
của những đấng… họ đặt niềm tin mà không bao giờ kiểm chứng được.
Giáo
lý Viên Đốn, người chủng tánh Đại thừa, những bậc tối thượng lợi căn mới có thể
tiếp thu tốt. Hàng chủng tánh Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác, đức tinh tấn thì
tốt nhưng chưa đủ trí tuệ để tư duy, quán chiếu tinh tường giáo lý Viên Đốn.
Còn nói chi hạng tiểu căn cơ, trí tuệ thô thiển phương tiện và cứu cánh lộn
sòng: Nhìn nắm tay mà cho rằng đãbắt được hư không thật.
Trên
đường tu, căn cơ, chủng tánh, trí tuệ không có thì sự tu hành rất khó thành
công, phương tiện và cứu cánh không nhận thức cho rõ ràng lấy phương tiện làm
cứu cánh thì mục tiêu giác ngộ giải thoát không bao giờ có được. Không nhận
thức được chất thanh tịnh bản nhiên của CĂN và CẢNH khiến cho căn cảnh trở
thành một thứ nguyên nhân khổ đau tai họa.
Sự
thật, CĂN CẢNH nào có tình gì ! Chỉ vì sự tiểu căn, thiển trí không tiếp thu
nổi Đại thừa Viên Đốn của Như Lai cho nên giống như tu nhiều, cần khổ tinh tấn
cả cuộc đời mà không thọ dụng được quả an lạc giải thoát giác ngợ !
THI
CA 48
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CĂN CẢNH SONG VONG LÀ PHẬT
Phiên âm:
Bất kiến nhất pháp tức Như Lai
Phương đắc danh vi quán tự tại
Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không
Vị liễu ưng tu hoàn túc trái
Dịch
nghĩa:
Bằng Phật nhãn,
CẢNH CĂN là huyễn
Đã huyễn rồi, còn thực được nữa sao ?
Chánh quán sâu, trong hành trụ… tứ oai nghi
Trong mọi lúc, đó gọi là "Quán tự tại"
Giác là hết,
còn chi vay với trả
"Nghiệp" tánh không, tìm hình mạo sao ra?
Chỉ vì mê thấy "Có trả có vay"
Ai cho vay nghiệp ? Ai là người vay nghiệp.
TRỰC CHỈ
Hiện
tượng sum la, muôn hồng nghìn tía vạn biệt thiên sai trước mắt, nhìn bằng cái
nhìn của nhục nhãn thì không ai có thể phủ nhận được điều đó. Qua con mắt của
người chứng đạo, CĂN CẢNH đều là một thứ pháp "duyên sinh". Mà duyên
sinh thì không có cái "Tự ngã", cái "thực thể". Thế cho
nên:
"Bằng
Phật nhãn CẢNH CĂN là huyễn
Đã huyễn rồi, còn thực được nữa sao ?"
Với
Phật nhãn, thấy tất cả, mà như không thấy gì hết "như không thấy gì
hết", vì thấy tận tường "thực tướng" của vạn pháp là vô tướng.
Phật,
theo giáo lý của đạo Phật, không phải là cái ông gì ghê gớm lắm đâu. Phật là
người, một con người khác hơn nhiều người ở chỗ nhìn vạn pháp mà "không
thấy một pháp nào" Phật, sự thật chỉ có vậy. Người nào có khả năng như
vậy, người đó là Như Lai, là Phật. Địa vị Phật trong Phật giáo không phải địa
vị độc tôn dành riêng cho "một ông Phật nào" hay "một tập đoàn
Phật" ở một cõi nước thanh tịnh xa xôi nào. Người nào có được "chánh
quán niệm" thường xuyên liên tục, giữ được cái trong sáng, cái thấy, thấy
tận tường thực tướng của vạn pháp, gọi đó là "Quán tự tại".
Theo
cái thấy của người chứng đạo, tác giả Chứng Đạo Ca "Quán tự tại"
không là một con người mà là "một pháp Quán" được liên tục thường
xuyên không bị tạp niệm vọng tưởng xen vào.
TỘI
TÁNH BỒN KHÔNG, thì cái gọi là nghiệp chướng cũng không có được thực. "…
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai". "Tam độc thủy bào hư xuất một"…
Cho nên:
"Giác là hết có chi vay với trả
"Nghiệp tánh không, tìm hình mạo sao ra ?
"Chỉ vì mê, thấy có trả có vay
"Ai cho vay nghiệp, ai là người vay nghiệp ?
THI
CA 49
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TỘI TÁNH BỒN KHÔNG. THIỀN NGAY CÕI DỤC
Phiên âm:
Cơ phùng ngọc thiện bất năng xan
Bệnh t? vương chẩm đắc ta !
Tại dục hành thiền tri kiến lực
Hỏa trung sanh liên chung bất hoại
Dũng thí phạm tội ngộ vô sinh
Tảo thời thành Phật ư kim tại
Dịch
nghĩa:
Đói gặp cỗ không ăn sao no được !
Bệnh trốn thầy (lương y) mong được lành sao
Sức thiền sâu, ở cõi dục vẫn hành
Sen trong lửa, tốt tươi mới là mầu nhiệm !
Thầy Dũng Thí, lỡ phạm vào tội trọng
Giác ngộ rồi, thành Phật có sao đâu !
TRỰC CHỈ
Giáo
lý của đạo Phật dạy rằng: Là một con người, tự mình định đoạt số phận mình
không ai thay thế sắp xếp định đoạt số phận mình không ai thay thế sắp xếp định
đoạt cho mình được. Cải tạo và xây dựng là hai mặt tích cực, con người dựa vào
đó mà quyết định hướng đi và nơi đến của đời minh. Không cải tạo, đào thải, gạn
bỏ vô minh phiền não, không xây dựng đức tánh từ, bi, hỉ, xả bồi dưỡng phước đức,
trí tuệ thì địa vị Hiền thánh, quả Bồ đề, Niết-bàn không ai ban cho ta được.
Đói
phải ăn mới no được. Tiệc của vua chiêu đãi, không ăn vẫn đói. Bệnh phải uống
thuốc mới lành, tránh thầy, trốn thuốc, bệnh không lành được. Học chánh pháp,
phải hành theo chánh pháp mới đem lại kết quả giác ngộ, giải thoát thật sự. Đối
với chánh pháp không dám nghe, không để tâm suy nghĩ, không hành thì không hy
vọng gì ở nơi sự giúp đỡ bất cứ từ đâu đến.
"Kim sanh tiệm tu quyết đoán,
Tưởng liệu bất do biệt nhân…"
TẠI
DỤC HÀNH THIỀN TRI KIẾN LỰC. Dưới mắt của người chứng đạo, tu sĩ cần có nghị
lực, có trí tuệ sắc bén đủ sức CẢI TẠO TẠI CHỖ, phiền não vô minh, chuyển phiền
não thành Niết-bàn. Chuyển sinh tử thành Bồ-đề ngay nơi cõi Ta bà ở trong CÕI
DỤC. Đó là điều người tu sĩ, đệ tử Phật phải làm và làm được. Người hành thiền
không cần trốn tránh, không cần xa lánh phiền não vô minh, tìm một nơi, một cõi
nào đó "thanh tịnh" để Thiền. Sen mọc từ bùn mà không hôi tanh mùi
bùn mới là mầu nhiệm. Sen mọc trong biển lửa sắc màu vẫn tươi nhuận, càng mầu
nhiệm hơn !
TẠI
DỤC HÀNH THIỀN TRI KIẾN LỰC !
Vấn
đề TỘI PHƯỚC:
"Tội là chi, phước lại là chi
Đa mang chi hai danh tự vô nghì
Ai bắt tội ? Ai là người chịu tội ?"
Theo
giáo lý Đại thừa liễu nghĩa:
"Tội
tánh bổn không"….
THI
CA 50
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO THẬT TÁNH CỦA TỘI LÀ KHÔNG CÓ TÁNH GÌ
Phiên âm:
Sư tử hống vô úy thuyết
Thâm ta mông đổng ngoan bì đát
Chỉ tri phạm trọng chướng bồ đề
Bất kiến Như Lai khai bí quyết
Dịch nghĩa:
Phật thuyết pháp vạch ra đường vô úy
Thật đáng thương cho người tim yếu, óc già suy
Chỉ biết run ! Sợ phạm tội, chướng Bồ đề !
Mà không biết, bí quyết Như Lai đã mở… ?
TRỰC CHỈ
Người
đệ tử Phật, đọc bài thi ca nầy phải giữ chánh niệm không được phóng tâm buông
lơi cảnh giác về "Thừa", về "Giáo", về "Tất đàn",
về "chủng tánh". Phải tự soát lại tư tưởng và nhận định về kiến thức
của mình.
Giáo
lý Đại thừa phải nhận thức bằng tư tưởng đại thừa của người chủng tánh Đại
thừa.
Đem
nhận thức, tư tưởng và chủng tánh không phải Đại thừa để mong đáp ứng thỏa mãn
ý muốn là điều không thể có.
Tư
tưởng Đại thừa:
"Tội tòng tâm khởi tòng tâm diệt
Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong"
Với
nguồn tư tưởng vòi vọi như vậy không phải căn cơ chủng tánh nào cũng bằng lòng
tiếp thu. Vì vậy, phải tận trọng khi đọc và tìm hiểu nguồn tư tưởng Đại thừa!
THI
CA 51
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO TỘI TỪ TÂM KHỞI TỪ TÂM DIỆT
Phiên âm:
Hữu nhị Tỳ Khưu phạm dâm sát
Ba ly huỳnh quang tăng tội kiết
Duy ma đại sĩ đốn trừ nghi
Du như hách nhật tiêu sương tuyết
Dịch
nghĩa:
Giới dâm sát có hai thầy phạm phải
Ưu Ba Ly, khủng bố xử "đoạn đầu" !
Lòng hoang mang, tăng sợ hãi của hai sư
Duy Ma Đại sĩ, trừ nghi sạch như sương tan trong nắng
sớm.
TRỰC CHỈ
Tiếp
ý bài thi ca 50, nói về vấn đề PHẠM GIỚI, mắc tội được giải quyết theo quan
điểm và tư tưởng của Đại thừa.
Thi
ca 51 nầy, hai Tỳ-kheo phạm cùng một tội danh và cùng một tội trạng. Thế mà, Ưu
Ba Ly thượng thủ xử hai thầy phải tội trọng, tội "đoàn đầu",
"khí", tức là tội phải đuổi khỏi Tăng đoàn khất sĩ, không được làm
Tỳ-kheo, không cho tu nữa.
Đại
sĩ Duy Ma Cật thay mặt cho hai Tỳ-kheo "kháng án" và nhân danh Đại
thừa tư tuởng, phát huy Đại thừa chủng tánh của hai thầy, Đại sĩ Duy Ma Cật xử
hai thầy "trắng án". Vì lẽ ‘TỘI TÁNH BỒN KHÔNG’… rõ ràng:
"Ba Ly huỳnh quang tăng tội kiết
Duy Ma Đại sĩ đốn trừ nghi
Du như hách nhật tiêu băng tuyết".
Ưu
Ba Ly xử "đoạn đầu" là xử theo Tiểu thừa tư tưởng. Duy Ma Dại sĩ xử
"trắng án" là xử theo Dại thừa tư tưởng và phát huy Đại thừa chủng
tánh vốn có trong hai thầy Tỳ-kheo ấy.
THI
CA 52
CÁI THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG
ĐẠO CÔNG ĐỨC BỐ THÍ PHÁP VÔ GIÁ
Phiên âm:
Bất tư nghì giải thoát lực
Diệu dụng hằng sa dã vô cực
Tứ sự cúng dường cảm từ lao
Vạn lượng huỳng kim diệc tiêu đắc
Phấn cốt thoái thân vị túc thù
Nhất cú liễ nhiên siêu bách ức
Dịch nghĩa:
Lực giải thoát
nghĩ bàn sao cho hết
Cát sông Hằng sánh diệu dụng chưa tày
Thọ cúng dường khỏi sợ, khỏi từ nan
Vàng vạn lượng, còn chưa cân xứng!
Thân dù nát,
xương tan như bột
Dâng cúng dường, chưa đủ để đền ơn
Huống hồ chi tứ sự bình thường
Nghe chánh pháp dứt sạch vô vàn nghiệp chướng
TRỰC CHỈ
Giúp
cho người của cải vật chất chỉ cứu được ngặt, không cứu được nghèo. Họa hoằn
một đôi khi có cứu thoát được nghèo nhưng khơng cứu khổ được khổ. Khổ, khó cứu.
Bao nhiêu người chết oan, chết ức, chết tức, chết tưởi chỉ vì khổ, không phải
ngặt nghèo. Có rất nhiêu trường hợp ở trong cảnh ngặt nghèo mà người ta không
hề khổ.
Giúp
cho người chánh pháp, khiến cho người hết khổ. Từ hết khổ là điều kiện rất cần
để tiến tới hết ngặt, hết nghèo. Đó không phải là điều khó hiểu. Đạo Phật chủ trương
cứu khổ là mục đích chính. Cứu nghèo là khuyến khích tiến lên. Bởi vì nghèo,
ngặt người ta vẫn có thể có hạnh phúc, an lạc, tự tại, khinh an thậm chí giác
ngộ, giải thoát được. Ở trong cảnh lầu son, gác tía, vàng ngọc đầy rương vậy mà
xưa nay biết bao nhiêu người không hề có an lạc, hạnh phúc… trong cảnh
"phù hoa" ấy.
Của
cải vật chất có chăng, chỉ đem lại cho con người sự an vui mong manh, tạm bợ
trong hiện tại. Chánh pháp của Như Lai, ban cho người thọ dụng sẽ có được an
vui vĩnh cửu, vui Niết-bàn, vui bất diệt bất sinh. Đó là ý nghĩa:
"… Lực giải thoát nghĩ sao cho hết
Cát sôngg Hằng sánh diệu dụng không tày…"
Giáo
lý Phật dạy cho biết: Tài thuộc ngũ gia. Của cải vật chất có thể là nguyên nhân
đau khổ cho chính những ai tham lam cất chứa nó. Đấy cãng không phải chuyện khó
thấy, khó hiểu. Thế cho nên, người làm cái việc PHÁP THÍ nói chánh pháp rồi
động viên cổ vũ mọi người cùng với mình sống trong chánh pháp. Làm được việc
đó, phước đức vô lượng vô biên. Đó không phải đại ngôn mà là sự thật. Bởi vì làm
được điều đó, tức là mình và người đều đạt đến mục đích, đến đỉnh cao của kiếp
sống con người. Làm được vậy, vấn đề "tứ sự cúng dường" và thọ dụng
tứ sự cúng đường không còn gì đáng ngại mà khỏi lo sợ "nợ nần",
"vay trả" để rồi phải "từ nan".
Cổ
Nho còn nói:
"Huỳnh kim thiên lượng vị vi qúy
Đắc nhân nhất ngữ thắng thiên kim
Thiên kim dị đắc
Hảo ngữ nan cầu…"
THI
CA 53
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO ĐỊA VỊ PHẬT LÀ ĐỊA VỊ MỘT PHÁP VƯƠNG KHÔNG LÀ ĐẤNG
SIÊU NHIÊN, SIÊU NHÂN, TOÀN NĂNG
Phiên âm:
Pháp trung vương tối cao thắng
Hằng sa Như Lai đồng cộng chứng
Ngã kim giải thử Như Ý châu
Tín thọ chi giải giai tương ứng
Dịch nghĩa:
Vua các Pháp bậc tối tôn tối thắng
Như ý châu tôi vừa phát hiện hôm nay
Ai tin nhận, cùng nhau chung thọ dụng
TRỰC CHỈ
Là
môn sinh tử đệ của Phật, cần phải hiểu Phật. Phật không bao giờ bằng lòng cho
ai tôn xưng mình là ĐẤNG SIÊU NHIÊN SIÊU NHÂN gì hết. Phật bằng lòng và rất
bằng lòng khi người ta hiểu Phật chỉ là một con người. Và chỉ khác hơn con người
ở chỗ: Phật là con người đã phát huy trí tuệ đến mức tận cùng cao tột của trí
tuệ. Đạt đến đỉnh cao tột của trí tuệ, có khả năng nhận thức chân lý một cách
viện mãn, không còn một sai lầm nhỏ, một tí xíu mù mờ. Trạng thái tỉnh thức,
sáng suốt đó, người ta gọi là GIÁC NGỘ. Cho nên, Phật bằng lòng khi người ta
hiểu Ngài là một GIÁC GIẢ. Bậc "Giác Giả" nhận thức chân lý, nhận
thức về lẽ sống của con ngưòi rất viên mãn, cho nên Phật không hề có sai lầm.
Vì không sai lầm chân lý cho nên Phật có sức tự chủ với lục căn, tự tại với lục
cảnh, trừ bỏ hết vô minh bao phủ của lục trần, vậy thôi. Vì sức tự chủ, tự tại
đối với vạn pháp cho nên Phật cũng bằng lòng khi đệ tử gọi mình với đức hiệu
PHÁP VƯƠNG, là vị đạo sư VUA ĐỐI VỚI CÁC PHÁP.
Mười
phương Như Lai cùng chung một thứ qủa vị giống nhau như vậy. Mười phương chư
Như Lai cũng chẳng phải là thứ ông gì ghê góm như nhiều người hiểu lầm về Như
Lai Phật.
Tác
gỉa Chứng Đạo Ca nói rằng: Những điều tôi trình bày trong đây là ý tứ của Phật
của kinh, tôi chỉ "Bảo châu Như ý" của chư Như Lai có, các bạn cũng
đã có sẵn trong các bạn. Nếu các bạn đồng ý về giáo lý bình đẳng tuyệt đối nầy
thì bạn cũng như tôi, chúng ta cùng thọ dụng bình đẳng, về Phật tánh bình đẳng
vốn có trong tất cả mọi người. Vì Phật là một con người, bạn cũng là một con
người, thì cái gì Phật có, bạn cũng sẽ có. Hãy luôn luôn nhớ rõ:
PHẬT
CHỈ LÀ MỘT BẬC PHÁP VƯƠNG
THI
CA 54
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO BẢN NGUYÊN VẠN PHÁP MỘT THỂ NHẤT CHÂN
Phiên âm:
Liễu liễu kiến vô nhất vật
Diệc vô nhơn diệc vô Phật
Đại thiên sa giới hải trung âu
Nhất thiết thánh hiền như điện phất
Giả sử thiết luân đảnh thượng triền
Định tuệ viên minh chung bất thất
Dịch nghĩa:
Thấy rất rõ không hề có thật vật
Cũng không người, không có Phật Trời chi !
Cõi đại thiên như bọt biển nổi chìm…
Hiền vói Thánh ! Như những tia điện nhoáng
Dù vành sắt, niềng đầu mà xoay xác
Trong mọi thời, định tuệ tôi vẫn sáng tròn
TRỰC CHỈ
Trước
mắt người chứng đạo, thấy vạn vật không có thật vật, thấy người không thật
người, thấy Hiền Thánh không thật có Hiền Thánh và Phật cũng không có Phật. Đại
thiên thế giới nhiều như cát sông Hằng, cũng chỉ như thứ bọt bèo hữu cùng nổi
chìm, sanh diệt ở trên mặt nước biển vô cùng, nghĩa là cũng không có thật Đại
thiên sa giới… Người chứng đạo, nhìn vạn pháp qua cái thấy của tuệ nhãn. Cái
thấy của người chứng đạo là kết qủa của một qúa trình tu tập quán chiếu tư duy,
thiền định lâu dài. Cho nên cái thấy của người chứng đạo nhìn thủng các lớp màn
vô minh chấp mắc bao vạn đời kiếp của con người, thấy được cái THỰC TƯỚNG của
vũ trụ vạn hữu là "tướng duyên sinh" mà có. Có bằng cái có của
"duyên sinh". Nhân duyên còn hòa hợp thì còn gọi là sinh. Khi nhân
duyên chia ly thì gọi là diệt. Dưới cái thấy của Tuê nhãn, vạn pháp CÓ mà không
thực có. Vì nó không có cái tự ngã chân thật của riêng nó. Nhưng người chứng
đạo, cũng không hoàn toàn phủ nhận rằng vạn pháp là KHÔNG, vì vạn pháp không
phải trống không, vĩnh viễn không như không của sừng thỏ lông rùa.
Hiền
Thánh, Trời Phật tư duy cho sâu sắc, quán chiếu cho tinh tường chân lý, người
ta sẽ hiểu tất cả những từ để xưng gọi các địa vị tôn quý đó, cũng chỉ là danh
ngôn giả lập mà ra. Hiền thánh là ai ? Trời là ai ? Phật là ai ? Tất cả địa vị
ấy, danh xưng tôn qúy ấy đều từ một con người. Dựa vào tiêu chuẩn giác ngộ chân
lý trọn vẹn hay chưa mà "ước định" cấp bậc và gán cho cái danh xung
ấy. Mà danh xưng giả lập thì cũng chỉ một dạng "duyên sinh như huyễn"
của vạn pháp ở trong vạn pháp.
Do
vậy, trước cái thấy của người chứng đạo là: KHÔNG CÓ THẬT VẬT và KHÔNG CÓ THẬT
TẤT CẢ.
THI CA
55
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO CHÂN LÝ THÌ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỒI
Phiên âm:
Nhật khả lãnh nguyệt khả nhiệt
Chúng ma bất năng hoại chân thuyết
Tượng giá tranh vanh mạn tiến đồ
Thùy kiến đường lang năng cự triệt
Dịch nghĩa:
Trăng có nóng ! Mặt trời dù có lạnh !
Lũ ma quân khôn xuyên tạc chân lý nầy
Thớt xe voi, đổ dốc tiến lừ lừ
Bầy bọ ngựa, chống xe sao cho nổi
TRỰC CHỈ
Áng
văn 288 câu dệt thành tác phẩm THI CA CHỨNG ĐẠO, thuần chất liệu tư tưởng Đại
thừa VIÊN ĐỐN. VIÊN ĐỐN GIÁO VẬT NHÂN TÌNH. Tác giả Chứng Đạo Ca đã tiên liệu
một cách chắc chắn rằng sẽ có rất nhiều người, rất nhiều tập đoàn tập thể, họ
cũng mệnh danh là đạo nầy, đức nọ, phê đây phán kia, đối với nguồn tư tưởng
liễu nghĩa Đại thừa. Thi ca số 55 nầy tác giả khẳng định lập trường và tư tưởng
của mình một cách quyết liệt.
"Trăng có nóng! Mặt trời dù có lạnh!
Lũ ma quân khôn xuyên tạc chân lý nầy".
"Chân
lý" được cô đọng trong 288 câu của tác phẩm Chứng Đạo Ca là chân lý Liễu
nghĩa Đại thừa, cho nên lũ ma quân làm sao có khả năng, làm sao có trí thức nào
khác đủ sức để mà xuyên tạc mà đối thoại.
Đối
với hạng người không "tri kỷ tri bĩ…" đọc lỏm bỏm vài quyển sách loại
"tiền nào của nấy"… mà khua môi, múa, mép, cải cối cải chày thì tác
giả nghiêm khắc:
"Thớt xe voi, đổ đốc tiến từ từ…
"Lũ bọ ngựa chống xe sao cho… nổi !"
THI
CA 56
CÁI
THẤY CỦA NGƯỜI CHỨNG ĐẠO GIÁO LÝ ĐẠI THỪA DÀNH CHO CĂN CƠ VÀ CHỦNG TÁNH ĐẠI
THỪA
Phiên âm:
Đại tượng bất du ư thố kính
Đại ngộ bất câu ư tiểu tiết
Mạc tương quản kiến báng thương thương
Vị liễu ngô kim vị quân quyết
Dịch nghĩa:
Voi vĩ đại, không đi đường ngoằn ngoèo của thỏ
Đại ngộ rồi, không câu chấp những nhỏ nhen
Nhìn trời xanh, qua ống, thấy được bao nhiêu trời?
Chưa hiễu rõ, tôi sẽ vì chư quân mà chỉ rõ.
TRỰC CHỈ
Đường
đi của thỏ, nhỏ hẹp ngoằn ngoèo, luồn qua lách lại theo hốc đá kẻ cây. Vì vậy,
chỉ có thỏ, đi theo con đường của thỏ. Voi thì đi đường thênh thang rộng lớn,
có lúc chà đạp cây rừng, hất văng đá khối để mở lối đi cho mình.
Ở
Việt Nam
có thiền sư Quảng Nghiêm, từng dõng dạc nói lên ý nghĩ táo bạo, tràn đầy chất
liệu đại thừa:
"Nam
nhi tự hữu xung thiên chí
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành"
Là
trượng phu, hãy nuôi chí lớn, khai đường mở lối mà đi, đừng dõi theo dấu chân
của Như Lai để bước. Hãy nhắm đích để mà đến. Còn đi bằng phương tiện gì, phát
xuất từ hướng nào, việc ấy không cần câu nệ. Đến như những lễ nghi bề ngoài có
tánh khách sáo, những tập quán thờ phượng, cúng bái, khấn nguyện, van xin theo
kiểu tín ngưỡng của một tôn giáo tầm thường, dưới mắt người chứng đạo, tất cả
là "tiểu tiết". Bậc Đại ngộ không chấp nhận những thứ đó trong chánh
pháp.
"Đại ngộ bất câu ư tiểu tiết"
Có
nghĩa là những tập quán, lễ nghi hình thức rườm rà vặt vãnh ấy không hợp chánh
pháp, người đại ngộ không làm. Dù có trái ý nghịch lòng với một số bạn đồng
song, pháp lữ đồng sàng dị mộng, bậc đại ngộ vẫn cam lòng chấp nhận. Bởi vì,
nhìn trời qua những điều kiện khác nhau thì nhận biết về trời cũng không sao
đồng nhau được. Cho nên bậc đại ngộ, phải thấy bằng cái thấy của mình, biết
rằng cái biết của mình. Nếu phải nói, thì lời nói ra phải bằng ngôn từ ý tứ của
chính mình.
"Vị liễu ngô kim vị quân quyết"
Hết
và
"Kiến tánh thành Phật"
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét