NHỨT THIẾT DUY TÂM TẠO
TỲ KHƯU THÍCH
CHÂN TUỆ
1) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy: “Nhứt thiết duy tâm
tạo”.
Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả. Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm. Đó chính là tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện. Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân. Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Sanh sự thì sự sanh. Nhân nào thì quả nấy. Gieo gió thì gặt bảo. Có lửa thì có khói. Cầu nguyện với tâm lăng xăng lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâm. Thiên đàng, địa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi. Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau:
Nghĩa là: Mọi sự mọi việc đều do tâm tạo ra tất cả. Công đức cũng do tâm tạo, nghiệp chướng cũng bởi tại tâm. Đó chính là tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi luôn luôn, thường do tham sân si chi phối, thúc đẩy, điều khiển, cho nên con người thường tạo nghiệp bất thiện nhiều hơn là nghiệp thiện. Chúng ta đã thấu hiểu lý lẽ chân thật của cuộc đời là: vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn, không có gì là tự nhiên sanh mà không có nguyên nhân. Luật nhân quả áp dụng trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Sanh sự thì sự sanh. Nhân nào thì quả nấy. Gieo gió thì gặt bảo. Có lửa thì có khói. Cầu nguyện với tâm lăng xăng lộn xộn, chỉ đem lại sự bình an tâm trí tạm thời. Bình an thực sự chỉ có cho người thiện tâm. Thiên đàng, địa ngục, tuy là hai tâm trạng khác nhau, nhưng thực sự, tất cả chỉ là các trạng thái ở trong tâm của chúng ta mà thôi. Bởi vậy cho nên, có bài kệ như sau:
Tội tùng tâm khởi tương tâm sám
Tâm nhược diệt thời tội diệc vong
Tội vong tâm diệt lưỡng câu không
Thị tắc danh vi chân sám hối.
Tâm nhược diệt thời tội diệc vong
Tội vong tâm diệt lưỡng câu không
Thị tắc danh vi chân sám hối.
Dịch là:
Tội từ tâm khởi đem tâm sám
Tâm đã diệt rồi tội cũng vong
Tội vong tâm diệt cả hai không
Đó chính thực là chân sám hối.
Tâm đã diệt rồi tội cũng vong
Tội vong tâm diệt cả hai không
Đó chính thực là chân sám hối.
Nghĩa là: Tất cả những tội lỗi gây ra, đều do tâm chúng ta chủ động, thì phải thành tâm mà
sám hối, tự trong thâm tâm. Từ đó, chúng ta phát nguyện không tái phạm, cho nên mỗi khi tâm tham, tâm sân, tâm si khởi lên, chúng ta liền biết ngay, dừng lại, không làm theo sự điều khiển, sai khiến của tham sân si, thì tội lỗi sẽ không còn tái phạm nữa. Khi tội lỗi không còn, tâm sanh diệt cũng lặng mất, con người sống trong trạng thái tịch tịnh, bình yên của tâm trí. Đó mới thực là sự sám hối chân chánh.
2) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy: “Tùy tâm
biến hiện“.
Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào. Trong sách có câu:
Nghĩa là: Mọi sự mọi việc trên thế gian này như thế nào, tốt hay xấu, lành hay dữ, đúng hay sai, phải hay quấy, được hay không, đều do vọng tâm của chúng ta biến hiện ra cả. Sự cảm thọ tùy theo tâm trạng, tùy theo cá nhân, không ai giống ai, không lúc nào giống với lúc nào, không thời nào giống với thời nào, không nơi nào giống với nơi nào. Trong sách có câu:
“Tâm buồn cảnh được vui sao
Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an.”
Tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an.”
Nghĩa là: Cùng một cảnh vật như vậy, nếu có tâm sự buồn phiền ảo não,
chúng ta không thấy cảnh vui chút nào. Còn nếu chúng ta có tâm trạng hân hoan
vui vẻ, dù cây khô trụi lá, cảnh vẫn đẹp vui như thường. Cái tâm hân hoan vui
vẻ là chúng ta, hay cái tâm buồn thảm lê thê là chúng ta? Cùng một câu nói như
vậy, nếu tâm an ổn, vui vẻ mát mẻ, chúng ta cũng cho là: nói đúng nói phải, nói
sao cũng được, nói ngược cũng xong. Trái lại, tâm đang bực bội, ai nói câu nào,
chúng ta cũng cho là: nói sai nói bậy, nói xiên nói xỏ, nói bóng nói gió, nói
hành nói tỏi, nói quấy nói quá. Vậy, hãy thử nghĩ xem, chúng ta là người: có
tâm thực tốt, hay tâm không tốt? Cái tâm sanh diệt, lăng xăng lộn xộn, thay đổi
bất thường như vậy, thực không phải là chúng ta.
3) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
“Tam giới tâm tận,
tức thị niết bàn”.
Nghĩa là: Khi nào
dứt sạch tâm trong ba cõi, lúc đó chúng ta mới thấy được niết bàn. Ba cõi, còn
gọi là tam giới, đó là: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Khi tâm tham nổi
lên, chúng ta sống trong dục giới, tức là cảnh giới đắm nhiễm tham dục, cảm
thấy đau khổ triền miên vì lòng tham của con người không đáy, không bao giờ
thỏa mãn được. Con người sống trong dục giới lúc nào cũng cảm thấy khao khát,
thiếu thốn, được bao nhiêu cũng không thấy đủ, cho nên luôn luôn chạy đôn chạy
đáo, tìm kiếm ngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Khi
tâm sân nổi lên, ngay lúc đó, chúng ta sống trong sắc giới, tức là cảnh giới
chấp chặt sắc tướng, lòng như thiêu đốt, sắc mặt tái xanh, vì sự tức giận, vì
sự bất mãn. Dù tâm tham không còn, tâm sân cũng tai hại vô cùng.
4) Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật có dạy:
“Nhất niệm sân tâm
khởi, bách vạn chướng môn khai”.
Nghĩa là: Một khi
tâm niệm tức giận, sân hận khởi lên mà chúng ta không tự kềm chế, không tự khắc
phục, thì biết bao nhiêu, trăm ngàn vạn chuyện khó khăn, đau khổ, chướng ngại
tiếp nối theo sau đó. Khi tâm si nổi lên, chúng ta sống trong vô sắc giới, tức
là cảnh giới vô minh, rất dễ lầm đường lạc nẻo, mê tín dị đoan, rất dễ dàng tạo
tội tạo nghiệp bằng cách: hãm hại trả thù, lập mưu tính kế, vu khống cáo gian,
thưa gửi kiện tụng, không cần biết hậu quả khổ đau đối với các người khác và
gia đình họ. Những giây phút ngu si, lầm lẫn thường là nguyên nhân của những sự
hối tiếc, đau khổ sau đó, cho mình và cho người khác, có khi kéo dài triền miên
suốt cả cuộc đời. Bởi vậy cho nên, phải dẹp trừ tận gốc các tâm tham sân si,
trong kinh sách gọi đó là: tam độc, chúng ta thoát ly tam giới gia, cuộc sống
mới an lạc và hạnh phúc.
5) Trong Kinh A Di Đà, Đức Phật có dạy: “Người nào
giữ được nhứt tâm bất loạn, trong một ngày cho đến bảy ngày, khi lâm chung giữ
tâm không điên đảo, thì người đó được vãng sanh tây phương”.
6) Trong Kinh Đại Tập, Đức Phật có dạy: “Nếu thường xuyên giữ
được chánh niệm, tâm không loạn động, dứt trừ được phiền năo, thì chẳng bao lâu
đắc thành quả vô thượng bồ đề”. Nghĩa là: Người tu tập phải luôn luôn quán sát
tâm chính mình, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, luôn luôn niệm Phật, khi vọng tâm
vọng tưởng vọng thức vọng niệm khởi lên, liền biết, không theo. Nhờ đó tâm được
an nhiên tự tại, không loạn động, dứt trừ được phiền não, gọi là: nhứt tâm bất
loạn. Nhờ công phu tu tập đó, chẳng bao lâu đắc thành quả vô thượng bồ đề. Khi
lâm chung giữ được tâm không điên đảo, cho nên được vãng sanh cảnh giới tịnh
độ. Muốn làm được điều này, muốn giữ được tâm trí nhứt như không loạn động, con
người phải thấu hiểu và thực hành quán tứ niệm xứ, gồm có: thân, thọ, tâm,
pháp.
7) Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật có dạy:
“Căn bản của sanh
tử luân hồi là: Vọng tâm”.
“Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân tâm”.
“Căn bản của bồ đề niết bàn là: Chân tâm”.
Nghĩa là: Chúng sanh sở dĩ bị trầm luân sanh tử, bởi vì suốt ngày này
qua ngày nọ, luôn luôn sống với vọng tâm, tức là tâm lăng xăng lộn xộn, luôn
luôn thay đổi, khi vui khi buồn, khi thương khi ghét, khi khen khi chê, khi tán
thán khi phê phán. Muốn tâm trí sáng suốt thanh tịnh, an nhiên tự tại, chúng ta
cần quán sát tâm chính mình: khi các vọng tâm nổi lên, chúng ta liền biết,
không theo, như vậy vọng tâm lắng xuống, diệt mất, chân tâm hiện ra rõ ràng.
Muốn làm được điều này,
muốn chân tâm hiển hiện, chúng ta cần phải thấu hiểu và tu tập bốn tâm rộng
lớn, trong kinh sách gọi là tứ vô lượng tâm, đó chính là: từ, bi, hỷ, xả. Khi
có tâm từ và tâm bi, chúng ta sẽ dễ cảm thông với muôn loài, nhứt là với loài
người, với những người chung quanh, gần như cha mẹ, vợ chồng, con cháu, xa hơn
như bà con, láng giềng, bạn bè. Do đó tâm giận tức, tâm sân hận có thể giảm
bớt, nhẹ bớt đi. Khi có tâm hỷ và tâm xả, chúng ta sẽ bớt được các tâm ganh tị,
tâm đố kỵ, tâm hơn thua, tâm cố chấp. Cho đến khi nào tứ vô lượng tâm trọn đầy,
vọng tâm tan biến, tâm ý trở nên an nhiên tự tại, chân tâm hiển hiện.
Đây mới chính là ý
nghĩa thiết yếu của việc tu tâm dưỡng tánh theo đạo Phật:
Trong tâm khởi
niệm, nếu giác kịp thời, liền biết không theo, đó là: chân tâm.
Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành: vọng tâm.
Trong tâm khởi niệm, nếu còn mê muội, không giác kịp thời, liền theo niệm đó, trở thành: vọng tâm.
Cũng ví như là: Khi
có gió thổi, mặt biển nổi sóng, gọi là biển động, ví như tâm lăng xăng lộn xộn.
Mặc dù có gió thổi, mặt biển vẫn bình yên, đó là biển thái bình, ví như bản tâm
thanh tịnh, hay tâm bình thường.
8) Trong Kinh Tịnh Danh, Đức Phật có dạy:
“Mặt trời mặt trăng vẫn thường sáng tỏ, tại sao người mù lại chẳng thấy? Cũng vậy, bởi vì nghiệp thức che đậy, chúng sanh thường biết mà cố phạm, cho nên chẳng thấy thế giới Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chẳng nhận ra bản tâm thanh tịnh thường hằng”.
“Mặt trời mặt trăng vẫn thường sáng tỏ, tại sao người mù lại chẳng thấy? Cũng vậy, bởi vì nghiệp thức che đậy, chúng sanh thường biết mà cố phạm, cho nên chẳng thấy thế giới Như Lai thanh tịnh trang nghiêm, chẳng nhận ra bản tâm thanh tịnh thường hằng”.
9) Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:
“Tất cả chúng sinh
đều có bản tâm thanh tịnh”. “Chúng sinh chẳng nhận thấy được, vì bị vô minh che
lấp”.
Nghĩa là: Con người
ai ai cũng có bản tâm thanh tịnh, cũng như mặt trời mặt trăng luôn luôn sáng
tỏ. Chỉ vì tâm tham lam của cải tiền bạc, hoặc vì tâm sân hận tự ái cao độ,
hoặc vì tâm si mê cố chấp, ví như mây đen che lấp mặt trời mặt trăng, cho nên con
người mới tạo tội tạo nghiệp, làm cho tâm trí loạn động, thường xuyên bất an,
điên đảo loạn cuồng, để rồi trôi lăn vào vòng sanh tử luân hồi, muôn kiếp
trước, và sẽ tiếp tục trôi lăn, muôn kiếp về sau, nếu như không chịu dừng
nghiệp và chuyển nghiệp.
Với số tiền nho
nhỏ, quyền lợi không đáng kể, con người còn có thể tỉnh thức, dừng được nghiệp,
dẹp tâm tham, không thưa kiện người khác, không gây não loạn cho người, và gia
đình của họ. Nhưng khi kiện thưa đòi tiền bồi thường vài triệu đô la, con người
thành ma, tối tăm mặt mũi, liều mạng đưa chân, hết biết lẽ phải, nhắm mắt làm
càn, tới đâu cũng được. Mãnh lực của đồng đô la quả thực là vạn năng, thượng đế
chẳng bằng, đã lôi kéo không biết bao nhiêu chúng sanh u mê, vào vòng tội
nghiệp, từ xưa đến nay!
Chính vì biết mà cố
phạm, nghiệp thức che đậy, vô minh che lấp, con người chẳng thấy được thế giới
Như Lai trang nghiêm, bản tâm thanh tịnh. Chúng ta là người tỉnh thức, đang tu
học chánh pháp, đang muốn trở về nguồn cội, đang muốn chuyển hóa cuộc đời của mình,
đang muốn thoát ly sanh tử luân hồi, càng phải nên hết sức cẩn trọng, cẩn trọng
và cẩn trọng!
10) Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy:
“Quá khứ tâm bất
khả đắc. Hiện tại tâm bất khả đắc. Vị lai tâm bất khả đắc”.
Nghĩa là: Chuyện quá khứ qua rồi đừng luyến tiếc, đừng nhớ nghĩ làm gì
cho bận tâm, chỉ gieo thêm nghiệp chướng chứ chẳng ích lợi gì. Muốn làm được
điều này, ở trong gia đình hay ngoài xã hội, chúng ta cần phải có tâm vị tha,
độ lượng, biết tha thứ, biết cảm thông, nói chung là tâm từ bi. Chuyện hiện tại
rồi cũng qua mau, cố níu kéo cũng chẳng được, có lo âu phiền muộn cũng chẳng
ích lợi gì. Chuyện tương lai chưa đến, lo lắng, ưu tư, sầu muộn cũng chẳng ích
lợi gì.
Chi bằng chúng ta
giữ gìn tâm trí được như như, bình tĩnh, thản nhiên, có phải khỏe hơn không?
Chuyện gì phải tới nó sẽ tới, lo sợ cũng chẳng ngăn cản được đâu. Đó chính là
nghiệp quả, nghiệp báo, còn gọi là: quả báo. Hiểu sâu được luật nhân quả, chúng
ta sẽ bình tĩnh thản nhiên chấp nhận quả báo xảy đến. Nếu không muốn có quả báo
xấu, chúng ta phải chấm dứt gây nghiệp nhân xấu, tức là chấm dứt tâm tham sân
si, tức là dừng ba nghiệp thân khẩu ý bất thiện. Trong kinh sách gọi là: dừng
nghiệp và chuyển nghiệp.
11) Trong Kinh Tịnh Danh và Kinh Tâm Địa Quán, Đức Phật có dạy:
“Tâm tịnh thì độ
tịnh. Tâm địa bình thì thế giới bình”.
Nghĩa là: Khi những
vọng tâm vọng tưởng, vọng thức vọng niệm đã dứt sạch, người tu tập không còn
tham, không còn sân, không còn si. Đến đây, người tu tập đạt được cảnh giới bất
nhị, tức là không còn kẹt hai bên, không còn thị phi, không còn phải quấy,
không còn tranh chấp, không còn hơn thua, không còn tạo tội, không còn tạo
nghiệp, không còn cố chấp. Trong kinh sách gọi đó là cảnh giới: vô tâm vô niệm,
hay là cảnh giới: nhứt tâm bất loạn. Lúc đó, tâm tịnh, tâm địa bình, tâm vô
quái ngại, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, tức là tâm an nhiên tự
tại, không còn điều gì có thể ngăn ngại được, gây lo sợ khủng khiếp được. Do
đó, chúng ta xa rời những thứ điên đảo, là bỏ được mộng tuởng, đạt được cứu
kính niết bàn. Mọi người chung quanh cảm thấy an ổn, yên tâm, khi sống gần
người tu tập có tâm tịnh, tâm địa bình. Thế giới chung quanh thanh bình, quốc
độ an ninh, chính là nghĩa như vậy.
12) Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
“Thắng vạn quân
không bằng tự thắng mình”.
“Tự thắng tâm mình là điều cao quí nhứt”.
“Tự thắng tâm mình là điều cao quí nhứt”.
Thắng được vạn
quân, con người tóm thu được quyền lực, danh vọng, tiền tài, của cải vật chất,
đủ mọi thứ trên trần đời. Nhưng tâm người đó vẫn sống trong tam giới: dục giới,
sắc giới, và vô sắc giới, cho nên vẫn còn phiền não khổ đau, vẫn còn sanh tử
luân hồi.
Muốn xuất được tam giới gia, chúng ta phải luôn luôn quán sát tâm chính mình: Khi nào tâm tham, tâm sân, tâm si nổi lên liền biết, không theo. Lúc đó chúng ta đã tự thắng mình: tức là tự kềm chế hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của chính mình. Người ta công kích, khích bác, vu khống, phỉ báng, phê phán, mạ lỵ, sỉ nhục, mắng nhiếc, người nào phản ứng nhanh, trả đũa nặng nề thì dễ quá, thường quá. Người nào tự thắng tâm mình, nhẫn nhịn được mà không thấy nhục nhằn, nhịn mà không nhục, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, mới đáng kính phục, mới là điều cao quí nhất.
Muốn xuất được tam giới gia, chúng ta phải luôn luôn quán sát tâm chính mình: Khi nào tâm tham, tâm sân, tâm si nổi lên liền biết, không theo. Lúc đó chúng ta đã tự thắng mình: tức là tự kềm chế hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của chính mình. Người ta công kích, khích bác, vu khống, phỉ báng, phê phán, mạ lỵ, sỉ nhục, mắng nhiếc, người nào phản ứng nhanh, trả đũa nặng nề thì dễ quá, thường quá. Người nào tự thắng tâm mình, nhẫn nhịn được mà không thấy nhục nhằn, nhịn mà không nhục, tâm trí vẫn an nhiên tự tại, mới đáng kính phục, mới là điều cao quí nhất.
13) Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
“Tâm khẩu nhứt như”. Nghĩa là: “Tâm khẩu không khác”.
Tâm nghĩ sao, miệng
nói vậy. Miệng thường nói tốt, tâm nên nghĩ tốt. Như vậy, cuộc sống mới được an
lạc. Ngược lại, tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo, miệng nói như vậy, tâm
không như vậy, nên sách có câu: Miệng thì nói tiếng nam mô. Trong lòng chứa cả
một bồ dao găm. Ở trên đời này, đố ai lấy thước để đo lòng người. Trong sách có
câu: “Tri nhân tri diện bất tri tâm,” nghĩa là: biết người chỉ biết mặt, không
biết được tâm địa. Cho nên chư Tổ có dạy: Phản quan tự kỷ, nghĩa là: hãy quay
lại, quán sát tâm chính mình, để giữ tâm khẩu nhất như.
14) Trong Kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”.
Nghĩa là: Khi khắc
chế được tâm ý, trụ tâm ở một chỗ, bằng cách tụng kinh, niệm Phật, thiền quán,
qua sự hiểu biết chánh pháp, tâm trí bình tĩnh thản nhiên, không còn chuyện gì
để cãi vã nữa, để tranh chấp nữa, cho nên không có sự việc gì người tu tập
không hiểu biết sáng tỏ, rõ ràng, không biện luận được một cách thông suốt.
Điều này giải thích
rằng: không có vị Phật nào không biết thuyết pháp độ sanh.
http://www.phtq-canada.blogspot.com
http://phathoctinhquang.chuaphat.com
cutranlacdao@yahoo.com
THƯA HỎI PHẬT PHÁP
- Thưa
Thầy, kính xin Thầy giải thích câu: “Phật pháp tràn đầy trong thế gian”.
- Đức Lục Tổ Huệ Năng, trong Kinh Pháp Bảo Đàn, có dạy:
- Đức Lục Tổ Huệ Năng, trong Kinh Pháp Bảo Đàn, có dạy:
Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích bồ đề
Kháp như tầm thố giác.
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích bồ đề
Kháp như tầm thố giác.
Nghĩa là: Người đời
thường nghĩ Phật pháp là chuyện trên trời dưới biển, xa vời đâu đâu, không có
thực tế, hoặc chỉ dành cho Phật tử hay người tu trong chùa mà thôi. Không ngờ
rằng: Phật pháp tràn đầy ngay tại thế gian này, ngay trước mắt, trong đời sống
hàng ngày, áp dụng bình đẳng, đồng đều cho tất cả mọi người, không phân biệt
Phật tử hay không Phật tử. Nếu sống cách ly thế gian, con người không thể giác
ngộ chân lý, cho nên không giải thoát phiền não khổ đau được.
Tại sao vậy? Bởi vì
lìa thế gian thì mất sáng suốt. Khác chi đi tìm sừng thỏ!
Người nào nhận ra được như thế, tất sẽ được an lạc và hạnh phúc hiện đời, giác ngộ và giải thoát sau này.
Người nào nhận ra được như thế, tất sẽ được an lạc và hạnh phúc hiện đời, giác ngộ và giải thoát sau này.
- Kính xin
Thầy giảng rõ hơn.
- Ví dụ, luật nhân
quả có ngay tại thế gian, không cần đi tìm đâu xa. Gieo nhân nào, gặt quả nấy.
Người gieo nhân hạt cam, chăm sóc, bón phân, tưới nước, tất sẽ gặt hái được quả
cam, không thể nào được quả khác.
Luật nhân quả đem
lại an lạc và hạnh phúc như thế nào? Hiểu và tin sâu luật nhân quả, con người
sẽ không buồn giận khi gặp nghịch cảnh (vận xui, bất trắc, nghe lời chướng tai,
thấy cảnh gai mắt) và không vui mừng khi gặp thuận cảnh (vận hên, như ý, nghe
lời tán tụng, thấy người hợp nhãn).
Tại sao vậy? Bởi vì
khi gặp nghịch cảnh, chúng ta hiểu ngay rằng: đó là nghiệp quả, nghiệp báo (quả
báo) do chính mình đã tạo nghiệp nhân xấu ác trước đây.
Khi gặp thuận cảnh,
chúng ta hiểu ngay rằng: đó là phước báo do chính mình đã tạo nghiệp nhân thiện
lành trước đây.
Buồn giận hay vui
mừng đều làm tâm loạn động. Tu theo Phật, cốt tủy là giữ bản tâm thanh tịnh.
Mình làm mình
hưởng. Mình làm mình chịu.
Đây là luật nhân
quả, chí công vô tư, không do cầu nguyện mà được hưởng may mắn, không do cầu
nguyện mà tránh được xui xẻo. Trước đây, vì chưa hiểu Phật pháp, con người lỡ
gây bao tạo nghiệp xấu ác, bất lương thiện, trong ý nghĩ, hành động và lời nói.
Chẳng hạn như nghi ngờ, nghĩ xấu người khác, giựt hụi quịt nợ, vu khống cáo
gian, ganh tỵ đố kị, gièm pha phỉ báng, chửi rủa mắng nhiếc, đâm bị thóc, thọc
bị gạo, chờ người làm sẵn cho mình được hưởng, tìm nhẹ lánh nặng.
Giờ đây con người
hiểu biết luật nhân quả, hết lòng sám hối, không gây thêm nghiệp nữa, nhưng rất
lo sợ phải gánh chịu nghiệp báo nặng nề, nếu không thể van xin cầu khẩn mà tránh
được, thì phải làm sao?
- Theo kinh
sách, Phật dạy: chỉ có phước báo mới có thể giảm thiểu, hoặc tiêu trừ quả báo
mà thôi. Kính xin Thầy giảng rõ thêm.
- Phước báo là kết
quả tốt đẹp trở lại với mình, do các điều thiện lành tạo ra phước báu. Chẳng hạn
như tụng kinh, niệm Phật, bố thí cúng dường, cứu người giúp đời, thấy người làm
việc phước đức, từ thiện, mình sanh tâm hoan hỷ, hoặc làm theo nếu có khả năng,
bên ngoài luôn tránh việc tranh cãi, bên trong luôn khắc chế các tâm niệm không
tốt, khi khởi lên niệm xấu về người khác liền ngưng và biết tàm quý (xấu hổ).
Cũng giống như lấy công chuộc tội, hay dùng tiền tiết kiệm để trả nợ xưa vậy.
Nhờ đó, chuyện lớn
sẽ hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không. Ví dụ như đáng lẽ mình phải trả nghiệp báo
nặng đến mức tán gia bại sản, thân bại danh liệt, tai nạn chết người, nhưng nhờ
có phước báo che chở, mình chỉ gặp bất trắc nhẹ hơn, có thể vượt qua được,
người đời thường gọi là may mắn, hay số hên. Đây là chân lý không dành riêng
ai. []
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét