THÂN BỆNH VÀ
TÂM BỆNH TRONG CÕI ĐỜI
Tỳ khưu Thích Chân Tuệ
THÂN BỆNH
Ðức Phật, là bậc toàn giác, vẫn
“Có” thân bệnh, nhưng “Không” phiền não và khổ đau, tâm trí của Ngài vẫn an
nhiên tự tại, trong mọi hoàn cảnh. Nói một cách khác, Ngài không có tâm bệnh.
Bất cứ ai sống trên đời này, còn mang thân xác con người, là còn khổ vì thân
bệnh, nếu không giác ngộ được chân lý vi diệu nhiệm mầu. Các vị giáo chủ của
tất cả các tôn giáo cũng có thân bệnh và rồi cũng chết như mọi người mà thôi.
Trong thời buổi khoa học tiến bộ
ngày nay, ngay tại những quốc gia văn minh tiến bộ Tây phương, vẫn còn một số
người, khi có thân bệnh, lại đi tìm uống nước suối nước sông, cầu mong phép lạ,
với cả niềm tin, thượng đế gia trì, hay ban phép lành, hoặc được ân điển, từ
đấng bề trên, nào đó chẳng biết, trị dứt bá bệnh, cả bệnh nan y, thậm chí cứu
được người chết sống lại!
Chúng ta thử suy nghĩ xem: những
vị tự xưng là thượng đế, là thánh thần, là thiên địa, là tu hành chứng đắc gì
đó, cứu người chết được sống lại, để làm gì, để được người đời tôn thờ nể sợ
chăng? Tại sao chỉ cứu người này, không cứu những người khác?
Dù có cứu được bao nhiêu người, để
rồi sau đó, những người này cũng lại chết một lần nữa, lần này chết thiệt đó,
như bất cứ mọi người nào khác, trên thế gian này. Nhứt là những vị tự xưng là
thượng đế, là thánh thần thiên địa kia, rồi cũng chết như ai, và lại còn chết
thảm, không chỗ chôn thây nữa là khác!
Nếu như các phép lạ, các điều linh thiêng huyền bí đó có thực, các bệnh viện, các cơ quan y tế nên đóng cửa, các bác sĩ, dược sĩ, y tá, điều dưỡng viên, chuyên viên y tế, nên giải nghệ, và chức sắc các tôn giáo đó không cần có y sĩ riêng, không cần nằm điều trị ở bệnh viện.
Nếu như các phép lạ, các điều linh thiêng huyền bí đó có thực, các bệnh viện, các cơ quan y tế nên đóng cửa, các bác sĩ, dược sĩ, y tá, điều dưỡng viên, chuyên viên y tế, nên giải nghệ, và chức sắc các tôn giáo đó không cần có y sĩ riêng, không cần nằm điều trị ở bệnh viện.
Nhiều người mê tín dị đoan hơn nữa, khi có thân bệnh, lại chạy đi tìm thầy bùa thầy ngải, tìm sư tìm sãi, thuốc tiên linh thiêng, chỉ một viên thôi trị dứt bá bệnh, thiệt là tội nghiệp, thực đáng thương xót, chỉ khổ bị gạt, tiền mất tật mang. Những người như vậy là những người không có trí tuệ bát nhã, không nhận được chân tướng của các pháp thế gian, rất dễ bị lung lạc bởi bất cứ luận điệu thuyết giảng, hay tuyên truyền nào, có vẻ mơ mơ hồ hồ, có vẻ linh thiêng huyền bí, có vẻ như điển nhập, từ thế giới vô hình nào đó, không giải thích được, thực ra không làm sao giải thích được, cho dù họ là kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, văn sĩ, thi sĩ, học sĩ, chuyên viên, chuyên gia, hay bất cứ ai.
Tại sao vậy? Bởi vì mọi người đều sợ chết, càng giàu càng giỏi càng sợ nhiều hơn, sợ mất cái thân mạng này, mà thôi!
TÂM BỆNH
Tâm bệnh có thể chia làm hai loại:
các bệnh tâm thần và những khổ đau về mặt tinh thần. Ðối với các bệnh tâm thần,
hay bệnh thần kinh, cũng đã có những bệnh viện thần kinh, các dưỡng trí viện,
với các bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm thần, chăm sóc và điều trị. Ðối với những khổ
đau về mặt tinh thần, con người mới cần tới sự giúp đỡ của các tôn giáo. Sự
giúp đỡ của các tôn giáo có nhiều hình thức khác nhau, tùy theo căn cơ, tùy
theo hoàn cảnh, tùy theo địa phương, tùy theo phong tục và tập quán của mỗi dân
tộc. Nhiều khổ đau phiền não của con người không thể điều trị dứt hẳn tận gốc,
bằng thuốc men, hay các phương pháp tâm lý học, mà phải được điều trị bằng đời
sống nội tâm, bằng sức mạnh tâm linh, bằng trí tuệ bát nhã.
Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đề cập đến vấn đề đời sống nội tâm, hay sức mạnh tâm linh, hay trí tuệ bát nhã trong đạo Phật mà thôi.
Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ đề cập đến vấn đề đời sống nội tâm, hay sức mạnh tâm linh, hay trí tuệ bát nhã trong đạo Phật mà thôi.
Ðạo Phật là đạo cứu khổ nhân loại,
cho nên đạo Phật mạnh mẽ nhận định: Cuộc đời là bể khổ. Chúng ta ai ai cũng
đồng ý với nhau rằng: Cuộc đời khổ nhiều hơn vui. Nhưng không phải vì vậy mà
chúng ta bi quan, yếm thế, chán đời, thụ động, chấp nhận định mệnh sẵn có, chấp
nhận số phận đã an bài, chấp nhận những cảnh khổ đau của cuộc đời. Ðạo Phật
không dừng lại ở nhận định như vậy. Ðạo Phật dạy chúng ta nhiều phương pháp: “Làm
sao cho đời bớt khổ. Làm sao cho đời hết khổ”. Trong tất cả các kinh điển của
đạo Phật, ghi lại lời chỉ dạy của Ðức Phật, đều nêu rõ các pháp môn tu tập,
nhằm mục đích giúp đỡ chúng sinh giải thoát khỏi phiền não và khổ đau một cách
tích cực, một cách hiệu quả. Thực ra, đó mới chính là mục đích cứu kính của đạo
Phật vậy.
Tuy nhiên, Ðức Phật chỉ là một bậc
đạo sư giác ngộ, đem chân lý giác ngộ chúng sinh, chứ không phải là thần linh,
hay thượng đế, chuyên ban phước giáng họa, cho nên không có thể cứu giúp con
người thoát khổ, qua các lời khẩn cầu van xin, cầu nguyện khấn vái, mỗi khi con
người gặp phiền não và khổ đau. Trong kinh sách có câu: “Chúng con khổ nguyện
xin tự độ”. Con người phải tự độ mình, tức là tự cứu chính mình, nhưng bằng
cách nào? Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
“Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chánh Pháp”. Nghĩa là: Con người muốn tự cứu chính mình, thoát ly mọi khổ ách, cần phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, phải sáng suốt học hiểu và nương theo Chánh Pháp, tức là các pháp môn tu tập, Ðức Phật dạy trong các kinh điển, chẳng hạn như “Bát Nhã Tâm Kinh”, và luôn luôn thực hành trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải chỉ cầu nguyện suông.
“Bát Nhã Tâm Kinh” là bài kinh chỉ dạy phương pháp tu tâm dưỡng tánh, dẹp trừ tâm loạn động bất an, uế trược cấu nhiễm, phát hiện chân tâm, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, để giúp cho chúng sanh sống được an lạc hạnh phúc, không còn phiền não khổ đau, giác ngộ được con người chân thật, để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Chân tâm đó mới thực là mình, còn cái xác thân và cái tâm bất an loạn động không phải là mình, sẽ bị bỏ lại thế gian, khi chúng ta ra đi sang kiếp khác. Như vậy, chúng ta học “Bát Nhã Tâm Kinh” là để nhận được bản tâm bản tánh thực sự của mình. Khi học xong kinh này, nếu chúng ta trực nhận được bản tâm thanh tịnh hay chơn tâm, tức là trí tuệ bát nhã bừng sáng, con đường vào đạo đã khai mở. Ðó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy. Người Phật tử sinh hoạt trong chùa, hay đi chùa lễ Phật tụng kinh, thường thuộc lòng “Bát Nhã Tâm Kinh”. Bởi vì “Bát Nhã Tâm Kinh” rất quan trọng trong Phật giáo, là cứu kính tối thượng của đạo Phật, cho nên bất cứ khóa tụng kinh nào, bất cứ khóa hành thiền nào, bất cứ khóa tu học nào, thuộc bất cứ tông phái nào của Phật giáo, cũng đều có “Bát Nhã Tâm Kinh”, dù bằng tiếng Việt, tiếng Hán Việt, hay tiếng Pali. Thêm một bước nữa, nếu như chúng ta cùng nhau tìm hiểu những điều Ðức Phật dạy trong “Bát Nhã Tâm Kinh”, rồi đem áp dụng vào đời sống hằng ngày, thì ích lợi vô lượng vô biên, công đức và phước đức viên mãn, không thể nghĩ bàn.
“Hãy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chánh Pháp”. Nghĩa là: Con người muốn tự cứu chính mình, thoát ly mọi khổ ách, cần phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, phải sáng suốt học hiểu và nương theo Chánh Pháp, tức là các pháp môn tu tập, Ðức Phật dạy trong các kinh điển, chẳng hạn như “Bát Nhã Tâm Kinh”, và luôn luôn thực hành trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải chỉ cầu nguyện suông.
“Bát Nhã Tâm Kinh” là bài kinh chỉ dạy phương pháp tu tâm dưỡng tánh, dẹp trừ tâm loạn động bất an, uế trược cấu nhiễm, phát hiện chân tâm, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, để giúp cho chúng sanh sống được an lạc hạnh phúc, không còn phiền não khổ đau, giác ngộ được con người chân thật, để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Chân tâm đó mới thực là mình, còn cái xác thân và cái tâm bất an loạn động không phải là mình, sẽ bị bỏ lại thế gian, khi chúng ta ra đi sang kiếp khác. Như vậy, chúng ta học “Bát Nhã Tâm Kinh” là để nhận được bản tâm bản tánh thực sự của mình. Khi học xong kinh này, nếu chúng ta trực nhận được bản tâm thanh tịnh hay chơn tâm, tức là trí tuệ bát nhã bừng sáng, con đường vào đạo đã khai mở. Ðó chính là mục đích cứu kính của đạo Phật vậy. Người Phật tử sinh hoạt trong chùa, hay đi chùa lễ Phật tụng kinh, thường thuộc lòng “Bát Nhã Tâm Kinh”. Bởi vì “Bát Nhã Tâm Kinh” rất quan trọng trong Phật giáo, là cứu kính tối thượng của đạo Phật, cho nên bất cứ khóa tụng kinh nào, bất cứ khóa hành thiền nào, bất cứ khóa tu học nào, thuộc bất cứ tông phái nào của Phật giáo, cũng đều có “Bát Nhã Tâm Kinh”, dù bằng tiếng Việt, tiếng Hán Việt, hay tiếng Pali. Thêm một bước nữa, nếu như chúng ta cùng nhau tìm hiểu những điều Ðức Phật dạy trong “Bát Nhã Tâm Kinh”, rồi đem áp dụng vào đời sống hằng ngày, thì ích lợi vô lượng vô biên, công đức và phước đức viên mãn, không thể nghĩ bàn.
Theo kinh điển đạo Phật, con người
có tám muôn bốn ngàn thứ tâm bệnh. Nào là bệnh tham lam, bệnh sân hận, bệnh si
mê, bệnh cố chấp, bệnh nghi ngờ, bệnh cao ngạo, bệnh thành kiến, bệnh tà kiến,
bệnh biên kiến, bệnh thiên kiến, bệnh định kiến, bệnh thường kiến, bệnh đoạn
kiến, bệnh kiến thủ, bệnh giới cấm thủ, bệnh tưởng tượng, bệnh cảm thọ, bệnh
trạo cử, bệnh hôn trầm, bệnh giải đãi. Bởi vậy cho nên, Ðức Phật chỉ dạy tám
muôn bốn ngàn pháp môn tu tập, để đối trị và diệt trừ từng thứ bệnh.
Chẳng hạn như để diệt trừ tâm tham
lam, bỏn sẻn, Ðức Phật dạy giữ giới và thực hành pháp môn bố thí. Người nào
hiểu được hạnh bố thí đem lại vô lượng vô biên phước báu, và thực hành được
hạnh bố thí hằng ngày, thì tâm tham lam, bỏn sẻn sẽ giảm đi nhiều. Người nào
biết cho ra, biết cứu người giúp đời, tức nhiên, cuộc sống được an vui. Người
nào chỉ biết tìm mọi cách hốt vô, mưu mô hại người hại đời, bất chấp thủ đoạn,
bất kể tha nhân, cuộc sống chắc chắn bất an.
Muốn giảm bớt tâm tham lam, chúng
ta phải bớt ham muốn, bớt ham thích, bớt nhu cầu, và nên biết thế nào là đủ.
Người không biết thế nào là đủ, ví như người khát nước, lại uống nước biển mặn,
càng lúc càng thêm khát, không bao giờ thỏa mãn! Nếu không có những gì mình
thích, thì hãy thích những gì mình có. Thế là yên chuyện! Khỏi tạo tội tạo
nghiệp thêm nữa!
Trong
Kinh Di Giáo, Ðức Phật có dạy:
Tri túc chi nhơn tuy ngọa địa thượng du vi an lạc.
Bất tri túc giả thân xử thiên đường diệc bất xứng ý.
Bất tri túc giả thân xử thiên đường diệc bất xứng ý.
Nghĩa là: Người biết thế nào là
đủ, tuy nằm trên đất, cũng thấy an vui, lợi lạc. Người không biết thế nào là
đủ, tuy thân ở trên cảnh giới thiên đường, tâm ý vẫn không thỏa mãn! Chẳng hạn
như để diệt trừ tâm sân hận, hay nóng giận, Ðức Phật dạy thiền định và thực
hành pháp quán từ bi. Con người tăng trưởng tâm từ bi được thì những cơn nóng
giận sẽ giảm đi rất nhiều. Cặp mắt của người có tâm từ bi, luôn luôn thương
nhìn cuộc đời, cư xử nhẹ nhàng, dễ dãi, khoan dung với mọi người chung quanh,
khó nổi cơn sân đối với những lỗi lầm, những sai trái của người khác, dù là
người thân hay kẻ thù cũng vậy, và không lợi dụng lòng từ bi của người khác.
Các bậc phụ huynh cần có tâm từ bi
quảng đại, mới có thể giữ gìn được hạnh phúc trong gia đình. Các nhà giáo cần
có tâm từ bi quảng đại, mới có thể thương yêu, dạy dỗ học sinh, như con ruột
của chính mình. Các nhà tu cần có tâm từ bi quảng đại, mới có thể thương xót
chúng sanh đang trầm luân đau khổ, phát nguyện tu hành tinh tấn, để tự độ và độ
tha, sẵn sàng hy sinh, phục vụ nhân loại.
Chẳng hạn như để diệt trừ tâm si
mê, Ðức Phật chỉ dạy trí tuệ bát nhã. Ðó chính là tam vô lậu học của Phật giáo:
Giới-Ðịnh-Tuệ, là phương tiện giúp đỡ chúng sinh giải thoát, không còn lọt vào
vòng sanh tử luân hồi, phiền não và khổ đau nữa. Chẳng hạn như để diệt trừ tâm
hay cố chấp, sống để dạ chết mang theo những lời người khác nói mích lòng, Ðức
Phật chỉ dạy pháp đối trị là tâm hỷ xả. Người nào hiểu được rằng chứa chấp càng
nhiều trong tâm thức của mình, càng bị trầm luân trong sanh tử luân hồi, trong
phiền não và khổ đau, chẳng ích lợi gì, bèn cố gắng phát triển tâm hỷ xả, tự
khắc sẽ cảm thấy khinh an, nhẹ nhàng, mắt sẽ nhìn cuộc đời một cách lạc quan
hơn, cuộc sống sẽ an vui, lợi lạc hơn.
Trí tuệ bát nhã trong đạo Phật,
được giảng giải trong Bát Nhã Tâm Kinh, cũng như được đề cập đến trong tam tạng
kinh điển, khác với trí tuệ của thế gian. Ở thế gian, người có trí tuệ là những
người học cao hiểu rộng, có bằng cấp các ngành nghề, hoặc là những người thông
minh lanh lợi, khôn ngoan sáng suốt, biết cách đối phó, ứng xử nhanh chóng, đối
đáp mạch lạc, nói năng lưu loát, thuộc nhiều vấn đề, qua nhiều phương diện,
trong mọi hoàn cảnh.
Nhưng, những người có trí tuệ trên thế gian vẫn sống trong điên đảo mộng tưởng, vẫn sống trong phiền não khổ đau, vẫn bị cảnh trần lôi cuốn đắm nhiễm, cũng như bao nhiêu người khác. Khi đắc thời được thế, vinh quang thắng lợi, họ hả hê hỉ hạ, hân hoan hớn hở, vui vẻ rỡ ràng. Khi thời thế xoay trở, mất mát thất thu, cơ nghiệp suy tàn, gia cảnh lầm than, họ ưu tư sầu muộn, phiền não khổ đau, có khi không còn muốn sống nữa. Còn trí tuệ bát nhã trong đạo Phật là phương tiện giúp đỡ tất cả chúng sinh, hiểu biết muôn sự mọi việc trên đời, một cách “đúng như thực”, không điên đảo mộng tưởng, không nhận giả làm chân, để đạt được giác ngộ và giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, thoát ly phiền não khổ đau, để kiến tạo một cuộc sống an lạc và hạnh phúc, ngay trên thế gian này.
Nhưng, những người có trí tuệ trên thế gian vẫn sống trong điên đảo mộng tưởng, vẫn sống trong phiền não khổ đau, vẫn bị cảnh trần lôi cuốn đắm nhiễm, cũng như bao nhiêu người khác. Khi đắc thời được thế, vinh quang thắng lợi, họ hả hê hỉ hạ, hân hoan hớn hở, vui vẻ rỡ ràng. Khi thời thế xoay trở, mất mát thất thu, cơ nghiệp suy tàn, gia cảnh lầm than, họ ưu tư sầu muộn, phiền não khổ đau, có khi không còn muốn sống nữa. Còn trí tuệ bát nhã trong đạo Phật là phương tiện giúp đỡ tất cả chúng sinh, hiểu biết muôn sự mọi việc trên đời, một cách “đúng như thực”, không điên đảo mộng tưởng, không nhận giả làm chân, để đạt được giác ngộ và giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, thoát ly phiền não khổ đau, để kiến tạo một cuộc sống an lạc và hạnh phúc, ngay trên thế gian này.
Mở đầu Bát Nhã Tâm Kinh, Ðức Phật
dạy: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát
nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá
Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị“.
Nghĩa là: Muốn quán chiếu cuộc
sống một cách tự tại, như các bực Bồ Tát, cần phải thực hành trí tuệ bát nhã
một cách thâm sâu, đến mức tột cùng ba la mật, khi đó xét thấy năm uẩn đều Không,
con người sẽ vượt qua được tất cả mọi khổ ách. Ở trên đời này, sắc chẳng khác
không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, các uẩn khác:
thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như vậy.
Thế nào là:”Chiếu kiến ngũ uẩn giai
không”, hay làm sao: “Xét thấy năm uẩn đều không”? Năm uẩn gồm có: sắc, thọ,
tưởng, hành, thức. Sắc là phần thân xác, có hình tướng, có sắc tướng, nhận thấy
được bằng mắt thường. Thọ, tưởng, hành, thức, là phần tinh thần, hay tâm linh,
không hình tướng, không nhận thấy được bằng mắt thường. Chúng ta nên biết rằng:
nguồn gốc của mọi sự đau khổ trên thế gian này đều do “tâm cố chấp” mà ra.
Chúng ta cố chấp điều gì? Chúng ta cố chấp rất nhiều thứ. Chẳng hạn như chúng
ta không nhận thấy được “con người chân thật”, cho nên chấp rằng: ngũ uẩn là
thực, tức là chấp thân này và tâm này là thực, trong kinh sách gọi như vậy là
“chấp ngã”. Chẳng hạn như chúng ta không nhận định được toàn bộ sự thực, nguyên
vẹn chân lý, cho nên chấp rằng: việc này đúng, việc kia sai, thế này là phải,
thế kia là quấy, trong kinh sách gọi như vậy là “chấp pháp”.
Trong Kinh Viên Giác, Ðức Phật có dạy: “Con người vì vô minh cho nên có hai thứ chấp: chấp ngã và chấp pháp. Ðó là hai nguyên nhân chính gây ra phiền não và khổ đau của cuộc đời”. Khi nào hiểu được một cách rõ ràng và phá trừ được hai nguyên nhân chính gây ra khổ đau về mặt tinh thần này, chúng ta sẽ tìm được an lạc và hạnh phúc thực sự, ngay trong cuộc sống hiện tại. Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về chấp ngã. Chấp ngã có nghĩa là chúng ta chấp cái thân giả tạm và cái tâm vô thường, lại cho là “thực”, lại tưởng chính là “mình”, cho nên mới phiền não và khổ đau.
Trong Kinh Viên Giác, Ðức Phật có dạy: “Con người vì vô minh cho nên có hai thứ chấp: chấp ngã và chấp pháp. Ðó là hai nguyên nhân chính gây ra phiền não và khổ đau của cuộc đời”. Khi nào hiểu được một cách rõ ràng và phá trừ được hai nguyên nhân chính gây ra khổ đau về mặt tinh thần này, chúng ta sẽ tìm được an lạc và hạnh phúc thực sự, ngay trong cuộc sống hiện tại. Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về chấp ngã. Chấp ngã có nghĩa là chúng ta chấp cái thân giả tạm và cái tâm vô thường, lại cho là “thực”, lại tưởng chính là “mình”, cho nên mới phiền não và khổ đau.
Trước hết, nói về cái sắc thân giả
tạm, tức là cái thân xác của chúng ta, lúc mới sanh ra đời, chỉ có vài ký lô
thôi, bây giờ thì cân nặng đến mấy chục ký lô. Ở đâu ra mấy chục ký lô đó, nếu
không do các chất: đất, nước, gió, lửa, tạo nên mà thôi. Ðất là những chất cứng
trong thân người như: tóc, lông, răng, móng, xương, thịt. Khi còn sống, chúng
ta mượn những chất từ đất mà ra, để bồi bổ cái thân này hằng ngày như: cơm gạo,
bánh mì, trái cây. Ðến khi chết, những thứ này trở về với đất. Nước là những
chất lỏng trong thân người như: máu, mủ, nước miếng. Khi còn sống, chúng ta
mượn những chất từ nước mà ra, để bồi bổ cái thân này hằng ngày như: canh, sữa,
nước giải khát. Ðến khi chết, những thứ này trở về với nước. Gió là những chất
hơi trong thân người. Khi còn sống, chúng ta mượn những chất từ không khí, hít
vô thở ra, để bồi bổ cái thân này hằng ngày. Ðến khi chết, những thứ này trở về
với không khí. Lửa là những chất ấm trong thân người. Khi còn sống, chúng ta
mượn những chất sanh nhiệt, để bồi bổ cái thân này hằng ngày như: gừng, chất
đạm. Ðến khi chết, những thứ này trở về với hư không.
Cái sắc thân giả tạm nặng mấy chục
ký lô này của chúng ta gồm bốn thứ nói trên, trong kinh sách gọi là thân tứ
đại, không phải là “thực”. Tại sao vậy? Bởi vì nếu cái thân tứ đại này thực là
của chúng ta, thì nó phải tuân lệnh và tùy thuộc quyền xử dụng của chúng ta.
Chúng ta ai ai cũng muốn cái thân tứ đại này trẻ mãi không già, khỏe mãi không
đau, còn mãi không hoại. Nhưng, từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, từ hoàng gia
đến dân chúng, từ giàu sang đến nghèo hèn, từ học thức đến bình dân, có ai được
toại nguyện như vậy đâu! Vậy mà ai động đến “nó”, chúng ta liền nổi xung, nhứt
định ăn thua đủ, nhứt định vác đơn kiện, nhứt định đòi bồi thường, nhứt định
làm tới luôn, cho hả giận cho đã nư, không thể nhịn nổi, chỉ nhằm bảo vệ cái
thân tứ đại vốn giả tạm, vốn không thực này, để rồi một ngày kia,
dù-muốn-hay-không, mọi người đều phải bỏ lại, để đi sang thế giới khác, để tái
sinh kiếp khác, với một đống nghiệp báo chẳng lành!
Ðời người chẳng qua chỉ là hơi
thở, khi thở hơi ra mà chẳng hít vào được nữa, thì ô hô tử vong! Ðời người chỉ
là tạm vay mượn đất, nước, gió, lửa, từ bên ngoài, để bồi bổ cho đất, nước,
gió, lửa, bên trong thân, từng ngày từng giờ, từng phút từng giây. Khi không
vay mượn nữa, con người không tồn tại được. Chỉ vì con người mãi quay cuồng
sống vội, mãi lo kiếm tiền, mãi lo hưởng thụ, mãi lo giữ gìn, mặt mũi hão
huyền, lúc nào cũng tưởng: “đời còn dài mà”, cho nên hơn thua, từng câu từng
lời, kiếm chuyện đấu tranh, chiếm đoạt tài sản, danh lợi phù du, giành giựt
miếng ăn, dựng chuyện thưa kiện, đòi hỏi bồi thường, tiền bạc phi nhân, chỉ
biết lợi mình, bất kể hại người, đem lại khổ đau, cho bao người khác. Bởi vậy
chính mình cũng chịu đau khổ phiền não luôn luôn.
Con người quên rằng: Ở ngoài nghĩa
trang, đâu phải chỉ có, mộ phần các cụ, trăm tuổi mà thôi! Hiểu được như vậy,
chúng ta không còn chấp cái thân tứ đại mấy chục ký lô này là thực nữa, thì sự
đau khổ, cho mình và cho người, chắc chắn sẽ giảm bớt. Cái thân tứ đại không
còn là thực nữa, thì những thứ phụ thuộc như: nhà cửa, tiền bạc, danh vọng, địa
vị, còn có nghĩa gì nữa đâu, mà ham muốn tranh chấp, đấu đá sát phạt, hơn thua
được mất, cho đời thêm đau khổ? Cái thân tứ đại, còn phải bỏ lại, thì có thứ
gì, đem theo được chứ? Có đem theo được chăng, chẳng qua là tội nghiệp, đã tạo
tác trong đời, mà thôi.
Trong
Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
“Người hơn thì thêm oán.
Kẻ thua ngủ chẳng yên.
Hơn thua đều bỏ hết.
Giấc ngủ được an lành”.
Kẻ thua ngủ chẳng yên.
Hơn thua đều bỏ hết.
Giấc ngủ được an lành”.
Làm được như vậy, chúng ta khỏe
re! Bằng không như vậy, đừng than khổ nhọc, như bò kéo xe, te tua tơi tả! Chuốc
khổ vào thân là tự chúng ta mà thôi. Không ai làm cho chúng ta đau khổ và phiền
não được, nếu chúng ta không muốn tiếp nhận sự phiền não và khổ đau đó. Ví như
người ta đưa lửa phiền não đến, nếu chúng ta không đưa thân tâm mình ra đón
nhận, thì lửa đó chẳng có tác dụng phiền não gì cả! Chẳng hạn như, có người tới
nói, mình là người xấu, mình có thực xấu, hay không phải xấu, tự xét tự biết,
tự sửa tự đổi, tự mình chuyển hoá, tự nguyện sám hối, giận dữ làm chi, cho
chúng khinh khi! Không thèm tức giận, thì sẽ ngủ khì! Khỏe quá khỏe quá!
Tóm lại, chúng ta biết rằng, khi đứng trong một căn phòng, cầm đèn rọi ra bên ngoài, thì mình sẽ thấy rõ, biết rõ cảnh vật bên ngoài, còn bên trong căn phòng thì tối thui. Ngược lại, khi xoay ngọn đèn vào bên trong căn phòng, dĩ nhiên căn phòng sáng tỏ, một cách rõ ràng, chúng ta có thể thấy mọi thứ đồ đạc và đi đứng không bị vấp ngã. Cũng vậy, khi chúng ta phóng tâm quán sát bên ngoài, chúng ta có thể phê phán người này đúng, người kia sai, chuyện này phải, chuyện kia quấy, sách này tốt, sách kia tồi, món này ngon, món kia dở, hội này hay, hội kia hỏng, vân vân và vân vân. Chúng ta có thể biết chuyện khắp năm châu bốn biển, chuyện thời sự khắp thế giới, chuyện văn chương kim cổ đông tây, muôn sự mọi việc bên ngoài đều biết rõ ràng rành mạch.
Trái lại, chuyện bên trong tâm trí của chính mình thì mù tịt, chẳng biết tí gì cả! Mình thực sự là ai, chẳng biết! Mình thực sự đang muốn gì, chẳng biết! Mình thực sự đang làm thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự đang nghĩ thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự sống trên đời để làm gì, chẳng biết! Mình sau này sẽ đi về đâu, nếu vẫn cứ tạo tội tạo nghiệp hằng ngày, chẳng biết! Chuyện gì thuộc về bên trong chúng ta cũng đều chẳng biết!
Tóm lại, chúng ta biết rằng, khi đứng trong một căn phòng, cầm đèn rọi ra bên ngoài, thì mình sẽ thấy rõ, biết rõ cảnh vật bên ngoài, còn bên trong căn phòng thì tối thui. Ngược lại, khi xoay ngọn đèn vào bên trong căn phòng, dĩ nhiên căn phòng sáng tỏ, một cách rõ ràng, chúng ta có thể thấy mọi thứ đồ đạc và đi đứng không bị vấp ngã. Cũng vậy, khi chúng ta phóng tâm quán sát bên ngoài, chúng ta có thể phê phán người này đúng, người kia sai, chuyện này phải, chuyện kia quấy, sách này tốt, sách kia tồi, món này ngon, món kia dở, hội này hay, hội kia hỏng, vân vân và vân vân. Chúng ta có thể biết chuyện khắp năm châu bốn biển, chuyện thời sự khắp thế giới, chuyện văn chương kim cổ đông tây, muôn sự mọi việc bên ngoài đều biết rõ ràng rành mạch.
Trái lại, chuyện bên trong tâm trí của chính mình thì mù tịt, chẳng biết tí gì cả! Mình thực sự là ai, chẳng biết! Mình thực sự đang muốn gì, chẳng biết! Mình thực sự đang làm thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự đang nghĩ thiện hay bất thiện, chẳng biết! Mình thực sự sống trên đời để làm gì, chẳng biết! Mình sau này sẽ đi về đâu, nếu vẫn cứ tạo tội tạo nghiệp hằng ngày, chẳng biết! Chuyện gì thuộc về bên trong chúng ta cũng đều chẳng biết!
Bởi vậy cho nên, Tổ Qui Sơn Linh
Hựu có dạy: “Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng”. Nghĩa là ngay khi, còn sống
trên đời, lúc còn khỏe mạnh, tinh thần tỉnh táo, nhưng con người vẫn, bị các
cảnh trần, lôi cuốn quay cuồng, vẫn bị tâm tham, tâm sân tâm si, sai xử liên
miên, tâm trí bất định, đến khi sắp chết, dù trẻ hay già, tâm thần hoảng hốt,
nhớ lại tất cả, tội nghiệp đã làm, đã nói đã nghĩ, trước đây trong đời, lo sợ
nghiệp báo, con đường trước mặt, mù mù mờ mờ, mang mang mịt mịt, thần thức rối
ren, không thể sáng suốt, không biết mình đi đâu, không biết mình vào cảnh giới
nào, lúc đó hối hận, cũng quá muộn màng!
Có một người, sau một thời gian
vắng nhà, đi lang thang ngoài gió bụi, làm khách phong trần lãng đãng đã nhiều
năm tháng, cảm thấy mệt mỏi, giờ đây muốn quay trở về quê hương, tìm về căn nhà
xưa. Khi về đến nhà, người đó nhận ra, tất cả đồ đạc, bên trong căn nhà, vương
vãi tứ tung, ngổn ngang trăm thứ, trên bàn trên ghế, trên cả sàn nhà, giấy tờ
rải rác, cùng khắp mọi nơi, bởi vì tất cả, cửa sổ cửa cái, cả thảy là sáu, đều
bị mở tung. Người đó bèn đi, đóng hết tất cả, cửa sổ cửa cái, đốt ngọn đèn lên,
cho sáng căn nhà, cho ấm căn phòng, rồi ra công sức, quét dọn khắp nơi, sắp xếp
đồ đạc, ngăn nắp gọn gàng, trật tự mỹ quan. Xong xuôi tắm rửa, pha tách trà
nóng, ngồi xuống yên lặng, thưởng thức khung cảnh, ấm áp lạ thường, từ trong ra
ngoài, thực khó diễn đạt. Ngay lúc bấy giờ, người đó cảm thấy, bình yên thanh
thản, an lạc hạnh phúc.
Cũng vậy từ lâu, chúng ta vô minh,
mở rộng sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đón nhận sáu trần: sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp, thường xuyên mỗi ngày, bởi vậy cho nên, nội tâm xáo trộn,
sanh ra sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.
Chúng ta đã từng nhận chịu quá nhiều phiền não khổ đau của cuộc đời. Cho nên
giờ đây, chúng ta muốn trở về với bản tâm thanh tịnh, muốn nội tâm không còn
xáo trộn, không còn náo động, không còn phiền não, không còn khổ đau. Việc đầu
tiên chúng ta phải làm là: đóng bớt sáu căn, giảm bớt cơ hội tiếp xúc với sáu
trần bên ngoài, tự khắc sáu thức cũng theo đó giảm đi.
Khi sáu thức giảm bớt, đến lúc
không còn nữa, tức là trong nội tâm không còn khởi bất cứ niệm nào nữa cả, khi
đó chúng ta đã trở về được căn nhà xưa, đã dọn dẹp mọi sự mọi việc ngăn nắp,
tìm được bản tâm thanh tịnh, đạt được cảnh giới cứu kính niết bàn. Tức nhiên
lúc đó, cuộc sống của chúng ta được an lạc và hạnh phúc, bởi vì phiền não và
khổ đau không còn nữa. Ðây chính là pháp môn tu tập theo Bát Nhã Tâm Kinh.
Sự mầu nhiệm vi diệu của đạo Phật
chính là sự áp dụng những lời dạy của Ðức Phật vào đời sống hằng ngày của người
Phật tử, dù tại gia hay xuất gia, để được an lạc hạnh phúc, để đạt giác ngộ
giải thoát, chứ không phải những chuyện mê tín dị đoan do những người tu mù,
không học hiểu kinh điển, giải thích giáo lý một cách mơ mơ màng màng, cho có
vẻ linh thiêng huyền bí, để lôi kéo tín đồ, mưu mô lợi dưỡng, hưởng thụ cuộc
đời, thêm danh thêm lợi, gọi là phương tiện, quên mất cứu kính! Những việc như
vậy, ngày nay tràn ngập, trong các sinh hoạt, Phật giáo khắp nơi.
Người Phật tử chân chánh, dù tại gia hay xuất gia, phát huy được trí tuệ bát nhã, sẽ dễ dàng nhận ra, nơi nào hoằng dương Chánh Pháp, đó là nơi giảng kinh thuyết pháp, mở lớp giáo lý, giúp ích mọi người, hiểu rõ Phật Pháp.
Còn những nơi nào, chỉ có cúng kiến, nghi thức lễ lạy, thu tiền bá tánh, bày trò văn nghệ, thi ca xướng hát, nhưng chẳng đem lại, một chút ích lợi, về mặt tâm linh, cho bất cứ ai.
Người Phật tử chân chánh, dù tại gia hay xuất gia, phát huy được trí tuệ bát nhã, sẽ dễ dàng nhận ra, nơi nào hoằng dương Chánh Pháp, đó là nơi giảng kinh thuyết pháp, mở lớp giáo lý, giúp ích mọi người, hiểu rõ Phật Pháp.
Còn những nơi nào, chỉ có cúng kiến, nghi thức lễ lạy, thu tiền bá tánh, bày trò văn nghệ, thi ca xướng hát, nhưng chẳng đem lại, một chút ích lợi, về mặt tâm linh, cho bất cứ ai.
HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH
Tỳ khưu Thích Chân Tuệ
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta
có rất nhiều thắc mắc, có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, chẳng hạn như là:
Gia đình theo truyền thống Phật Giáo lâu đời, nhưng cha mẹ thường bất hòa với
nhau, đôi khi gây gổ, đánh lộn. Làm sao khuyên giải để cha mẹ trở nên hòa
thuận?
Trước hết, chúng ta phân tích câu
hỏi này thành ba phần để tìm hiểu cho rõ ràng:
Thứ nhứt, khi nói gia đình theo truyền thống Phật Giáo lâu đời, có nghĩa là: ông bà, cha mẹ, nhiều thế hệ đã tin Phật, thờ Phật, tụng kinh, niệm Phật, đi chùa, lễ Phật, bố thí, cúng dường, làm phước, và thế hệ ngày nay tiếp tục truyền thống y như vậy, thế thôi, có phải vậy không?
Thứ nhứt, khi nói gia đình theo truyền thống Phật Giáo lâu đời, có nghĩa là: ông bà, cha mẹ, nhiều thế hệ đã tin Phật, thờ Phật, tụng kinh, niệm Phật, đi chùa, lễ Phật, bố thí, cúng dường, làm phước, và thế hệ ngày nay tiếp tục truyền thống y như vậy, thế thôi, có phải vậy không?
Thực ra, như vậy cũng tốt, cũng
quí, cũng đáng mừng lắm rồi, bởi vì gia đình đã gieo trồng căn lành thêm lớn.
Tuy nhiên, như vậy chưa hoàn toàn đầy đủ. Tại sao như vậy? Bởi vì gia đình chưa
có cơ duyên thuận tiện tìm hiểu giáo lý của đạo Phật một cách tường tận để áp
dụng vào trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì vậy mới có tình trạng bất an ở
trong gia đình.
Đạo Phật là đạo cứu khổ nhân loại,
cho nên giáo lý của đạo Phật rất thực tế, có thể áp dụng vào trong đời sống
hằng ngày của mọi người, nhằm mục đích đem lại an lạc trong tâm của con người
và đem lại hạnh phúc cho gia đình, hòa bình cho xã hội. Chẳng hạn như là: giáo
lý đạo Phật dạy “từ bi hỷ xả” (trong kinh sách gọi là: tứ vô lượng tâm, tức là
bốn tâm rộng lớn vô cùng) để con người có thể thương yêu mọi người như thể
thương thân, vui với hạnh phúc của người khác, luôn luôn hòa thuận với tất cả
mọi người xung quanh, tha thứ bỏ qua dễ dàng lỗi lầm của người khác, chỉ biết
lo giữ gìn tâm niệm của chính mình cho được ngày một thanh tịnh hơn, ngày một
trải rộng ra, vị tha hơn là vị kỷ, vì người hơn là ích kỷ, chỉ biết vì mình, vì
gia đình mình.
Thứ hai, cha mẹ bất hòa với nhau,
thường gây gổ, đánh lộn. Nguyên nhân chính là do: tâm “chấp ngã” và tâm “chấp
pháp”.
Chấp ngã là chấp cái thân và cái
tâm của mình là thực, tồn tại lâu dài, vĩnh viễn. Người ta thường thấy người
khác chết, chứ chưa bao giờ dám nghĩ đến cái ngày, chính mình cũng phải chết!
Nếu như con người biết rằng ngày mai mình sẽ từ giã cuộc đời, thì chắc chắn hôm
nay không còn tâm trí đâu để cãi nhau, đánh nhau, tranh đấu hơn thua, tranh
giành của cải, tranh danh đoạt lợi!
Đó là chuyện cái thân nặng mấy
chục kí lô. Còn cái tâm của mình thì sao? Tâm của con người hằng ngày hết sức
lăng xăng lộn xộn, lúc nghĩ chuyện thiện, lúc nghĩ chuyện ác, lúc nghĩ chuyện
đàng Đông, lúc nhớ chuyện bên Tây, lúc hiền, lúc dữ, lúc nghĩ chuyện quốc gia
đại sự, lúc nghĩ chuyện hang cùng ngõ hẹp, lúc nghĩ chuyện cứu đời giúp người,
lúc nghĩ chuyện lợi mình hại người, lúc nghĩ chuyện quảng đại cao thượng, lúc
nghĩ chuyện ti tiện nhỏ nhen.
Vậy cái tâm nào thực sự là “mình”?
Mình thực sự là ai? Chẳng biết?! Mình hiền hay dữ? Chẳng biết? Tùy theo người
khác đối xử với mình tốt hay xấu? Tùy theo cảnh trần? Nếu cứ như vậy, con người
bị ràng buộc trong sanh tử luân hồi, chịu nhiều phiền não khổ đau, không sao
tránh khỏi. Chúng ta không bao giờ nhận ra cái “bản tâm thanh tịnh” thường
hằng, bởi vì kiếp con người luôn luôn bận tâm với cảnh trần đời bên ngoài quanh
năm suốt tháng cả ngày, cho đến hơi thở cuối cùng!
Chấp pháp là chấp chặt mọi thứ vật
chất có hình tướng trên đời là tồn tại vĩnh viễn. Cho nên con người mới đấu
tranh, giành giựt, quơ quào, vơ vét, nhồi nhét cho đầy túi tham, giấu giếm, cất
giữ, tích trữ, cố gắng chiếm hữu thực nhiều của cải, bất chấp mọi thủ đoạn,
không màng đến sự khổ đau của người khác, chà đạp lên mọi người để đoạt được ý
muốn của mình.
Về phương diện tinh thần, chấp pháp nghĩa là chấp chặt cái ý kiến, cái suy nghĩ, cái sở học, cái hiểu biết của mình, luôn luôn là đúng, ai làm ngược lại, ai nói ngược lại, ai nghĩ ngược lại đều là sai hết! Chỉ có mình là đúng nhứt mà thôi! Hiểu được tường tận nguyên nhân chính gây ra những phiền não khổ đau trên cuộc đời này như vậy, con người chỉ cần phá bỏ tâm cố chấp (chấp ngã và chấp pháp) thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc ngay.
Về phương diện tinh thần, chấp pháp nghĩa là chấp chặt cái ý kiến, cái suy nghĩ, cái sở học, cái hiểu biết của mình, luôn luôn là đúng, ai làm ngược lại, ai nói ngược lại, ai nghĩ ngược lại đều là sai hết! Chỉ có mình là đúng nhứt mà thôi! Hiểu được tường tận nguyên nhân chính gây ra những phiền não khổ đau trên cuộc đời này như vậy, con người chỉ cần phá bỏ tâm cố chấp (chấp ngã và chấp pháp) thì cuộc sống sẽ an lạc và hạnh phúc ngay.
Thứ ba, muốn khuyên giải cha mẹ
hòa thuận, chúng ta cần làm hai điều: Một là, bản thân phải tỏ ra là người con
hiếu đạo trong gia đình, là người công dân tốt, hiền lương trong xã hội. Hai
là, bản thân phải tìm học giáo lý của đạo Phật để có thể giải thích cho cha mẹ
những lời của Đức Phật, và chư vị Tổ sư, chỉ dạy trong các kinh sách, những
điều thực tiễn có thể áp dụng được trong cuộc sống hằng ngày, chứ không phải
chỉ cầu nguyện, van xin, khấn vái, mà có được cuộc sống an lạc và hạnh phúc
đâu.
Tóm lại, để gia đình được hòa
thuận an vui, chúng ta cần phải thực sự hiểu nhau, thông cảm nhau, mới có thể
thực sự yêu thương nhau được, bằng tinh thần vị tha, hơn là vị kỷ, bằng tấm
lòng phục vụ, hơn là đòi hỏi được phục vụ, bằng sự phát tâm cứu khổ người khác,
hơn là kêu trời than khổ. Mọi sự trên đời rồi sẽ qua, cuộc đời rồi sẽ kết thúc,
chúng ta nên xây dựng cuộc sống của chính mình được an lạc và hạnh phúc, ngay
trên hiện đời này, chấm dứt ngay sự gây đau khổ cho người khác. []
Thế nào là “pháp nhẫn ba la mật”?
Tỳ Khưu Thích Chân Tuệ
Đó là phương pháp nhẫn nhịn, kham nhẫn, chịu đựng mọi chuyện trên đời, mọi cơn sóng gió của thế gian. Đó là phương pháp “nhẫn nhịn mà không thấy nhục nhã” như người đời thường nghĩ. Bởi vì, nếu nhẫn nhịn mà còn thấy là nhục nhã, thì chúng ta chỉ có thể nén giận để nhịn, chắc là không lâu, không quá ba lần.
Chúng ta nên nhận định một cách sáng
suốt rằng những lời thị phi “không có nghĩa” gì cả, cho nên chúng ta “không cần
chấp” làm gì. Chúng ta không chấp vào những lời nói, phê bình, chỉ trích, mạ
lị, miệt thị, vu khống, vu cáo, thay trắng đổi đen, lộng giả thành chơn, thì
chắc chắn chúng ta sẽ an ổn, bình yên, không ai xâm phạm được.
Thí dụ như khi người ta đưa lửa tới
đốt, chúng ta đưa bổi ra đón, lửa có điều kiện cháy lớn hơn. Nếu chúng ta không
đón ngọn lửa do người ta đem tới, thì ngọn lửa đó chỉ đốt hư không mà thôi, hư
không không có gì để đốt cháy được, lúc nào đó lửa cũng sẽ tắt queo, không gây
thiệt hại gì! Cũng vậy, khi bị người khác công kích, chỉ trích, mạ lị, miệt thị,
chúng ta không chấp vào đó, coi chuyện đó là những chuyện “đương nhiên phải có”
ở thế gian đầy tranh chấp, ganh tị, đố kỵ, chúng ta sẽ an ổn, bình yên, không
ai xâm phạm được.
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gọi
tắt là Kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy: đó là “thập như thị”, tức là
mười thứ như thị, gồm có: như thị tánh, như thị tướng, như thị thể,
như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo, như thị bổn mạt cứu cánh.
Nghĩa là: do tâm tánh của con người
như vậy cho nên hình tướng của con người là như vậy; do bản thể của con người
như vậy cho nên nghiệp lực của con người là như vậy; do tạo tác của con người
như vậy gây ra nghiệp nhơn như vậy cộng thêm nghiệp duyên như vậy cho nên
nghiệp quả của con người là như vậy; vì nghiệp báo của con người như vậy cho
nên từ xưa đến giờ cứu cánh của con người cũng là như vậy.
Hiểu được mười điều đương nhiên như
thị, như thế, như vậy, tức là chúng ta đã thấy tột chơn tướng của mọi pháp trên
thế gian này. Được như vậy, được như thế, được như thị, chúng ta sẽ sống đời an
lạc và hạnh phúc, bởi vì chúng ta đã giác ngộ và giải thoát. Nhưng làm thế nào
thực hành được pháp nhẫn ba la mật?
Câu trả lời đó là: “Người muốn thực hành được pháp nhẫn ba la
mật, phải đạt được trạng thái vô ngã”.
Trước hết, người đạt được “trạng
thái vô ngã” là người không còn chấp “cái ta” tầm thường, như mọi người trên
thế gian này thường chấp. Người đời thường chấp, thường cho rằng, tấm thân tứ
đại mấy chục ký lô chính là “mình”, chính là “ta”. Khi được hỏi mình là ai, người
đời thường chỉ ngay ngực, hay chỉ vào tấm thân tứ đại nặng nề và trả lời: Ta
đây nè! Cho nên, hễ ai đụng đến “ta”, thì phải phản ứng ngay, phải đối phó
ngay, nhịn không nổi, nín không được. Trái lại, người đạt được “trạng thái vô
ngã” là người hiểu rõ ràng: tấm thân, do đất nước gió lửa hợp thành này, không
phải là “ta” thực sự.
Đó chỉ là cái trạm dừng tạm thời của
kiếp này, trong vô số kiếp, của “ta” mà thôi. Đến khi mãn kiếp này đời này,
“ta” sẽ bỏ lại cái tấm thân đó mà ra đi, tìm cái thân xác khác, trong sáu nẻo
luân hồi. Nếu không khéo, do lòng tham lam lâu đời dẫn dắt, “ta” lại chọn nhằm
cái thân con heo, hoặc do lòng sân hận lâu đời dẫn dắt, “ta” lại chọn nhằm cái
thân con rắn mãng xà, hay do lòng si mê lâu đời dẫn dắt, “ta” lại chọn nhằm cái
thân con bò, thì khốn khổ biết là bao nhiêu.
Sở dĩ gọi đó là “tấm thân tứ đại”,
do “đất nước gió lửa” hợp thành, bởi vì nếu không có những chất từ đất ra như
thức ăn, những chất từ nước như thức uống, những chất từ gió như dưỡng khí,
những chất từ lửa như hơi ấm, bồi bổ liên tục mỗi giây, mỗi phút, mỗi giờ, mỗi
ngày, thì chúng ta đã vong mạng từ lâu rồi vậy. Đó chỉ là “tấm thân tứ đại”,
không phải thực là “ta” vậy.
Thứ đến, người đạt được “trạng thái
vô ngã” là người hiểu rõ ràng: tâm trạng của mình luôn luôn thay đổi trong từng
sát-na, trong từng giây phút. Những tâm niệm, những suy tư, nghĩ tưởng trong
giây phút trước đây, bây giờ đã khác đi hay không còn nữa. Tâm tánh của mình có
khi hiền thiện như thánh nhơn, cũng lắm khi độc hại còn hơn ác quỉ. Mình chỉ
thấy mọi người khác gian ác, mọi người khác nguy hiểm, mọi người khác sai lầm,
đáng bị trừng phạt, đáng bị bỏ tù, đáng bị xử tử, để cho xã hội này, cho thế
gian này, trong đó có mình, được sống bình yên, được hưởng sung sướng! Con
người thường thấy là mình đúng, khi đòi hỏi phải trừng phạt thật nặng, đòi hỏi
phải bỏ tù rục xương, đày đọa địa ngục, xô xuống hỏa ngục, những người khác
phạm tội ác.
Con người thường suy nghĩ, sáng chế,
yêu cầu thi hành những hình phạt ghê rợn nhất để trừng phạt, trừng trị đích
đáng những phạm nhân đã sát hại thân nhân mình và nghĩ rằng người quá cố sẽ vui
lòng nơi suối vàng. Thực ra, đó là tâm trạng của chính mình muốn như vậy mà
thôi. Người đã chết có nói gì đâu, có yêu cầu gì đâu, có đòi hỏi gì đâu? Bởi
vậy có câu: “Suy bụng ta ra bụng người… chết! “.
Mấy ai nghĩ được rằng: nếu làm như
vậy, cả hai gia đình phạm nhân và nạn nhân cũng đều thiệt hại một nhân mạng,
đều cùng đau khổ như nhau. Thỉnh thoảng báo chí cũng có đăng các tin rất cảm
động, gia đình nạn nhân xin giảm tội, xin xử nhẹ tội, hay xin tha tội cho phạm
nhân.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ân báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Lấy ân báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Con người thường nhân danh công lý,
nhân danh tôn giáo, nhân danh lẽ phải, nhân danh thượng đế, nhân danh đủ các
thứ có thể nhân danh được, để kết án, kết tội, trừng trị tất cả mọi người khác.
Còn nếu mình phạm tội thì đáng được tha thứ, phải được tha thứ, người khác thì
không đáng được! Cái chỗ bất công này là nguyên nhân chính, đưa tới xáo trộn, biến
loạn trong xã hội là như vậy.
Cuối cùng, người đạt được “trạng
thái vô ngã” chính là người không còn chấp “cái ta” tầm thường như mọi người
trên thế gian này thường chấp. Người đạt được “trạng thái vô ngã” là người hiểu
rõ ràng rằng: “ta” không phải là cái thân tứ đại nặng nề, và cũng không phải là
cái tâm suy nghĩ lăng xăng lộn xộn thường ngày, bởi vì những thứ đó bị vô
thường chi phối, nay còn mai mất, chợt hiện chợt biến, không tồn tại vĩnh viễn.
Như vậy, “cái gì” tồn tại vĩnh viễn,
không bị vô thường chi phối, “cái gì” bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm,
theo như Đức Phật chỉ dạy trong Bát Nhã Tâm Kinh? Đó chính là “cái ta chơn
thật”, đó chính là “con người chơn thật” của tất cả chúng ta.
Mục đích cứu kính rốt ráo tột cùng
của Đạo Phật chính là nhằm khai mở, chỉ bày “con người chơn thật” đó cho mọi
người biết được, hiểu được, ngộ được, nhập được, sống được. Người nào được như
vậy tức là được giác ngộ và giải thoát, được an lạc và hạnh phúc hiện đời.
Trong kinh sách, Đức Phật có dạy: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc
tôn”.
Nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có “cái ta chơn thật” là điều độc nhứt đáng tôn trọng, đáng trân quí mà thôi. Cũng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật có dạy:
Nghĩa là trên trời dưới đất chỉ có “cái ta chơn thật” là điều độc nhứt đáng tôn trọng, đáng trân quí mà thôi. Cũng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Đức Phật có dạy:
Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố,
vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn.
Nghĩa là: Nếu chúng ta ngộ được,
nhập được, sống được bằng “con người chơn thật” không tướng mạo, nên không dơ,
không sạch, không tăng, không giảm, không kẹt nhị biên, thể nhập bất nhị pháp
môn, thì tâm chúng ta không bị bất cứ cái gì có thể khủng bố, nên không còn sợ
hãi, do không còn sợ hãi nên không có gì có thể khiến cho mình kinh khiếp hoảng
sợ, chúng ta xa lìa được tất cả các chuyện điên đảo đảo điên, các chuyện mộng
mơ mơ tưởng, các chuyện không thực ở thế gian, cuối cùng đạt được cảnh giới
niết bàn vô sanh, không còn phiền não khổ đau, không còn sinh tử luân hồi.
Đó mới chính thực là mục đích cứu kính của người theo đạo Phật bằng trí tuệ bát nhã.
Đó mới chính thực là mục đích cứu kính của người theo đạo Phật bằng trí tuệ bát nhã.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy
rằng: Người nào ôm ấp tâm niệm nó mắng tôi, nó chửi tôi, thì không phải là
người trí, chỉ chuốc khổ vào thân thôi. Người nào không ôm ấp những tâm niệm
như vậy, thì người đó dẹp được lòng sân hận. Nghĩa là chúng ta đã thấy rõ như
trên, bất cứ ai dù bị mắng chửi, bị mạ lỵ hay không bị mắng chửi, không bị mạ
lỵ, mà cứ ôm ấp tâm niệm đó trong lòng, thì chỉ chuốc lấy phiền não và khổ đau
cho chính mình, có khi còn đem lại bất an cho gia đình, cho những người chung
quanh nữa mà thôi.
Trong suốt những năm dài thuyết pháp
độ sanh, Đức Phật luôn luôn khuyến khích mọi người nên thực hành hạnh nhẫn nại,
nhẫn nhịn đến mức rốt ráo, cao tột, trong kinh điển gọi là “pháp nhẫn ba la
mật”. Đức Phật luôn luôn hành pháp nhẫn nại, dù lắm khi Ngài cũng bị chỉ trích,
bị chửi mắng, thậm chí bị tấn công. Nhẫn nại không bao giờ là dấu hiệu của sự
yếu đuối, ươn hèn, kém cỏi, chủ bại, đầu hàng, nhục nhã.
Trái lại, nhẫn nại là sức mạnh bất
khuất, sức mạnh vạn năng, sức mạnh vô song của người tự chủ, của người đã ngộ
được và sống được với “cái ta chơn thật”, cho nên không còn sợ bị chúng khinh
khi, không còn sợ chúng “được đằng chân lân đằng đầu”, không còn sợ chúng “được
nước làm tới”.
Tại sao vậy? Bởi vì “cái ta chơn
thật” không phải là tấm thân tứ đại, không có tướng mạo, cho nên không ai có
thể xâm phạm được. Điều nên sợ, đáng sợ chính là mình không thể kham nhẫn được,
không thể chịu đựng nỗi, không thể tự thắng mình, không thể tự chủ được bản
thân và bản tâm mình trước những thử thách, trước những sóng gió của cuộc đời
mà thôi.
http://www.phtq-canada.blogspot.com
http://phathoctinhquang.chuaphat.com
cutranlacdao@yahoo.com
CÓ HAY KHÔNG ĐỜI SỐNG KIẾP
SAU?
Tác giả : Gyalwang Drukpa XII
Thành thực mà nói, tôi mong rằng
không có đời sống kiếp sau. Gần đây, một trong những học trò lâu năm nhất nói
với tôi rằng “Con không quan tâm đến đời sống kiếp sau”.
Thoạt đầu, tôi vô cùng sửng sốt, sau
đó, tôi cảm thấy rất đau lòng. Tôi cho rằng, nếu đời sống kiếp sau thực sự
không tồn tại, sẽ không ai phải ưu lo gì về đời sống hiện tại. Nhưng không may
thay, thực tế không phải vậy. Vì tất cả chúng ta đều phải trải nghiệm nhân và
quả của ba nghiệp thân, khẩu, ý của mỗi người, do vậy chúng ta nên cẩn trọng và
chuẩn bị chu đáo cho đời sống kế tiếp.
Tôi thực sự mong không có kiếp sau. Nếu
không có kiếp sau, tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn trong đời này, chỉ
để thỏa niềm ham thích cá nhân. Tôi có thể sát sinh, có thể tạo tác mọi ác
nghiệp, có thể làm mọi điều sai trái chỉ để chạy theo bản ngã và thỏa mãn những
tham muốn vị kỷ, bởi vì tôi biết kiếp sau không tồn tại, đồng nghĩa với việc
tôi sẽ không phải chịu bất cứ hậu quả và nghiệp báo nào, dù là tiêu cực hay
tích cực, cho những gì mình đã làm. Dù tôi thực hiện nhiều thiện hạnh cũng sẽ
không đem lại những kết quả tốt đẹp nào.
Nếu mà như vậy, chúng ta sống sẽ
chẳng có mục đích, chúng ta chẳng cần tôi luyện, trưởng dưỡng những phẩm chất
tích cực cho bản thân, chẳng cần làm bất cứ điều gì. Chúng ta sẽ trở nên lãnh
đạm, vô tri như gỗ đá. Gỗ đá không tin rằng sẽ có đời sống kiếp sau.
Đáng buồn thay, không ai vượt được
ra ngoài quy luật nhân quả, không chúng sinh nào thoát khỏi nghiệp quả của
chính mình. Chúng ta có thể không tin vào quy luật của nghiệp và kiếp sau,
nhưng không có nghĩa sự thật này không tồn tại. Tôi gửi tới các bạn bức ảnh tôi
chụp cách đây 30 năm, nó như một lời nhắc nhở mạnh mẽ cho chúng ta về kiếp sau.
Các bạn có thể thấy tôi đã thay đổi nhiều, và sự thay đổi này không diễn ra tức
thì, đó là sự thay đổi dần theo năm tháng, như một tiến trình của sự phát
triển.
Từng giây phút, “cái tôi” trước đây
chết đi để thay bằng “cái tôi” của giây phút tiếp theo. Chính điều này cho tôi
thấy sự tồn tại của đời sống sau này. Bất cứ điều gì tôi tạo tác trong quá khứ
đều ảnh hưởng tới đời sống hiện tại của tôi cho tới tận lúc này. Nhiều thứ đồ
ăn không phù hợp, dù chỉ là chút ít, mà tôi đã dùng khi còn bé đều có thể ảnh
hưởng rất nhiều tới sức khỏe của tôi lúc trưởng thành. Hiển nhiên, đây chính là
nhân quả.
Điều quan trọng nhất đối với một
hành giả tâm linh đó là niềm tin kiên định không bao giờ thối thất vào quy luật
nghiệp nhân quả. Quy luật nghiệp là quy luật vũ trụ thâu nhiếp tất cả, không ai
trong chúng ta có thể thoát khỏi quy luật đó. Thấu hiểu luật nhân quả sẽ giúp
chúng ta luôn đi đúng đường, luôn tỉnh giác về chính mình, những hành động mà
mình đang tạo tác và con đường mình đang đi.
Hiểu rằng chúng ta còn có kiếp sau
và nhiều đời sống vị lai nữa thực sự là một điều tuyệt vời, bởi đó chính là cơ
hội vô cùng tích cực giúp sách tấn chúng ta hướng thiện và hoàn thiện bản thân,
dù có những khi vấp ngã hay phạm phải sai lầm, nhưng ta vẫn tin tưởng mình còn
cơ hội để sám hối và sửa chữa khuyết điểm.
Nếu kiếp sau không tồn tại, sẽ chẳng
có chút hy vọng cho thế giới này. Nếu như vậy, chúng ta chẳng nên làm gì và đều
trở nên vô tri giống như gỗ đá. Bất cứ đó là trải nghiệm buồn hay vui, như ý
hay bất như ý, chúng ta cần đạt được hiểu biết chân thực thông qua trải nghiệm
của chính mình về luật nhân quả. Khi đó, chúng ta sẽ hiểu rằng mọi thứ đều nằm
trong tầm tay, mọi thứ đều do chính chúng ta quyết định, và chúng ta là chủ
nhân số phận của chính mình, có thể thay đổi số phận, làm cho nó ngày một tốt
đẹp hơn.
Nếu khổ đau đối với chúng ta là vô
nghĩa, nếu ta không ngại gieo nhân đau khổ để gặt hái những quả khổ đau, chúng
ta có thể hoàn toàn lừa dối bản thân rằng không hề có ngày mai, không hề có
kiếp sau.
Tuy nhiên, vì điều đó không thể xảy
ra trên thực tế, vậy tại sao chúng ta phải buông bỏ? Chúng ta không cần và
không nên bi quan hay suy nghĩ tiêu cực về cuộc sống này. Chúng ta đã có đời
sống làm người vô giá của kiếp này với rất nhiều nhân duyên thiện lành thù
thắng được hạnh ngộ, giác ngộ và tu tập Phật Pháp - Chân lý Vũ trụ - do chính
Đức Phật - bậc Toàn giác cùng các Pháp tử Truyền thừa giác ngộ của Ngài trao
truyền. Chúng ta may mắn hơn nhiều so với vô vàn chúng sinh khác không hề có cơ
hội được biết đến Chân lý, dù chỉ là cái thấy biết thoảng qua.
Giác ngộ không phải là một hành
trình, một chuyến đi mà chúng ta phải trải qua với sự đau đớn, khó nhọc. Giác
ngộ chính là ngay ở đây, ngay lúc này. Chúng ta là một với Giác ngộ và không
sai khác với Chân lý Vũ trụ. Chỉ bởi vô minh không nhận ra điều đó nên chúng ta
bị mắc kẹt trong vô vàn nỗi thống khổ, sợ hãi và nghi ngờ. Khi tất cả những
chướng ngại và khổ đau này được chuyển hóa và tịnh hóa hoàn toàn, chúng ta sẽ
lập tức nhận ra rằng Tính Giác vốn đủ đầy và sẵn có nơi chính mình. Hành trình
gian khó mà chúng ta phải trải qua không phải là Giác ngộ, đó chỉ là hành trình
tu tập trải nghiệm giúp đem lại những hiểu biết chân chính, hay thậm chí chúng
ta có thể gọi đó là hành trình khám phá Tâm bản lai. Hành trình khám phá này có
thể vô cùng phức tạp, cam go.
Bạn cũng có thể bị mắc kẹt trong
những khổ đau và nuối tiếc ngay trên chính hành trình đó. Đừng quá lo lắng về
điều này. Khó khăn, thử thách là điều tất yếu. Nhưng, như câu ngạn ngữ vẫn dạy:
“Lửa thử vàng, gian nan thử sức” hay “Khổ học mới thành tài”. Nếu không có khó
khăn, trở ngại, chúng ta sẽ không biết cách tri ân cuộc sống. Đôi khi, tôi vẫn
thường tự nhủ bản thân rằng khổ đau luôn hiện hữu trong cuộc đời này nhằm giúp
chúng ta ý thức được rằng mình đang sống và mình vẫn còn cơ hội.
Các pháp hữu và học trò thân quý của tôi, các bạn đừng chán nản hay tuyệt vọng. Chúng ta sẽ luôn đồng hành và là thiện hữu tri thức của nhau trên hành trình khám phá tâm linh siêu việt này. Chúng ta đã đồng hành trong vô lượng kiếp đời quá khứ, vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục sát cánh bên nhau trên con đường cao quý này trong vô lượng kiếp vị lai. Đã, đang và sẽ có những lúc đó là một hành trình khúc khuỷu, thăng trầm và đầy khó nhọc.
Các pháp hữu và học trò thân quý của tôi, các bạn đừng chán nản hay tuyệt vọng. Chúng ta sẽ luôn đồng hành và là thiện hữu tri thức của nhau trên hành trình khám phá tâm linh siêu việt này. Chúng ta đã đồng hành trong vô lượng kiếp đời quá khứ, vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục sát cánh bên nhau trên con đường cao quý này trong vô lượng kiếp vị lai. Đã, đang và sẽ có những lúc đó là một hành trình khúc khuỷu, thăng trầm và đầy khó nhọc.
Cũng có những khi trời quang mây
tạnh, chúng ta có thể băng băng vượt sóng tiến lên. Cũng lại có cả những chặng
đường tẻ nhạt và vô vị. Tựu chung, sẽ là vô số vô số những trải nghiệm khác
nhau trên con đường tìm cầu Giác Ngộ. Giờ đã khuya, tôi muốn gửi tới các bạn
lời “Tạm biệt và chúc ngủ ngon!”
CÂU CHUYỆN VỀ HAI VỊ THIỀN SƯ
Có một vị thiền sư trú trong túp lều
tranh ở trên núi, một buổi tối khi đi thiền hành trở về, nhìn thấy một tên trộm
đang chiếu cố túp lều tranh của mình nhưng tìm không được vật gì cả. Ngài bèn
cởi chiếc áo ngoài đang mặc trên người và đứng ngoài cửa đợi tên trộm ra, vì
ngài sợ làm kinh động tên trộm.
Tên trộm vừa quay ra thì gặp thiền
sư, trong lúc tên trộm hốt hoảng vị thiền sư liền nói: “Anh bạn! đường sá xa
xôi vất vả lên núi thăm tôi, tôi không đành lòng để anh về tay không, đêm khuya
rồi, khoác chiếc áo này mà về cho đỡ lạnh. Nói xong ngài cầm chiếc áo khoác lên
thân tên trộm. Tên trộm xấu hổ, cúi đầu rồi chạy thẳng xuống núi không dám nhìn
lại.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “Rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi.
Thiền sư nhìn dáng tên trộm khuất dần trong núi rừng mờ mịt, không ngừng thương cảm nói: “Rất đáng thương, tôi muốn tặng cho anh cả vầng trăng để chiếu sáng con đường cho anh xuống núi.
Vài hôm sau, khi thiền sư đang mở to
đôi mắt nhìn ánh bình minh xuất hiện, thì nhìn thấy chiếc áo mà ngài khoác lên
thân tên trộm mấy hôm trước đó được xếp rất ngay ngắn đặt trước cổng, thiền sư
vui vẻ nói: “ Cuối cùng thì ta cũng đã tặng anh ta cả vầng trăng sáng rồi”.
Lại có câu chuyện khác cũng tương
tự. Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi,
vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn. Vào những
buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo
qua tường ra bên ngoài chơi.
Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai. Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về. Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình.
Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai. Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về. Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình.
Lập tức vị học tăng hồn bay phách
tán quỳ xuống nói không ra lời. Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ
nhàng nói: “Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh hãy nhanh vào phòng
nghỉ ngơi.”
Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ
phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt
mình trước mặt đại chúng. Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua,
thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết.
Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy
rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu
học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.
Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế
nào với hai sự việc như thế? Tôi nghĩ, trong câu chuyện thứ nhất. Những người
bình thường thì sẽ cùng tên trộm vật lộn hoặc sẽ la lớn lên “Trộm, trộm…”. Câu
chuyện thứ hai, đối những với người bình thường thì sẽ đem lỗi của vị học tăng
nói trước mặt mọi người, sau đó sẽ có hình thức trách mắng quở phạt riêng cho
vị ấy.
Nếu làm như vậy kết quả sẽ như thế
nào nhỉ? Tôi nghĩ có thể xảy ra hậu quả thế này, câu chuyện thứ nhất: Tên trộm
sẽ đánh bị thương hoặc giết chết vị thiền sư hoặc có thể vị thiền sư đánh tên
trộm bị thương và tên trộm sẽ trở lại trả thù thiền sư vào một ngày gần đó. Câu
chuyện thứ hai, sau khi vị học tăng bị quở phạt trước mọi người sẽ cảm thấy rất
xấu hổ với bạn bè, trong lòng buồn phiền thối chí tu học cuối cùng trở thành
con người bình thường, và có thể từ bỏ lối sống thiền môn.
Hai vị thiền sư này xử sự không
giống những người bình thường như chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại
bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng. Con người không phải là
thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng
ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung.
Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc
đây là phương pháp giáo dục tốt nhất. Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt,
khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến
thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan
dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.
(Tác giả Văn Đan, Như Nguyện dịch)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét