Quyển Qui Sơn Cảnh Sách là một
quyển luận của Thiền sư Linh Hựu. Do Ngài ở tại núi Qui, người đương thời nể
trọng đức hạnh không dám gọi tên, nên dùng tên núi để gọi Ngài; vì vậy Ngài có
tên là Qui Sơn. Quyển luận này nhằm mục đích nhắc nhở người xuất gia phải nỗ
lực tu hành, để được giải thoát nên được đề tựa là Cảnh Sách; “Qui Sơn Cảnh
Sách” là luận Cảnh Sách của Ngài Qui Sơn.
Đây là bộ luận mà trong thiền
môn nói riêng, giới xuất gia nói chung, coi như kinh của Phật. Thế nên ai xuất
gia vào chùa, trong thời gian đầu học làm Sa Di, đều phải học thuộc lòng ba
quyển gọi là Phật Tổ Tam Kinh; Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Di Giáo, Qui Sơn
Cảnh Sách.
Hai quyển đầu là lời Phật dạy được gọi là kinh thì đúng. Quyển Cảnh Sách
của Ngài Qui Sơn đáng lý phải gọi là luận, tại sao lại gọi là kinh? Các vị thuở
xưa thấy lời chỉ dạy sách tấn của Ngài rất thiết yếu, vừa thích hợp với chân
lý, vừa phù hợp với căn cơ mọi người, nên các vị xem như lời Phật dạy, vì vậy mà gọi là kinh.
Quyển Qui Sơn Cảnh Sách đối với tất cả những người xuất gia còn trẻ,
trong thời tập sự đã phải học thuộc lòng rồi. Nhưng hôm nay tôi đem ra giảng,
vì đây là tác phẩm của một thiền sư (Tổ Qui Sơn) thuộc đời thứ tư sau Lục Tổ:
1. Nam Nhạc Hoài
Nhượng
2. Mã Tổ Đạo Nhất
3. Bá Trượng Hoài Hải
4. Qui Sơn Linh Hựu
Ngài sinh năm 771, tịch năm
853. Quyển sách này ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ tám hoặc đầu thế kỷ thứ
chín. Ngài giáo hóa trên núi Qui, nơi đây có hơn 1500 thiền sinh qui tụ tu tập,
nên Ngài có lời cảnh sách để răn nhắc chung toàn chúng.
Lời Ngài chẳng những có giá trị về đạo lý, mà còn có giá trị về văn
chương, nên được trong thiền môn dùng để sách tấn toàn thể Tăng Ni. Bởi có giá
trị như thế nên sau này có nhiều nhà giải thích:
1. Đời Tống, Ngài Thủ Toại chú
đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Chú” (1 quyển).
2. Đời Minh, Ngài Đạo Bá giải
đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Sách Chỉ Nam ” Quyển này nằm trong bộ Phật Tổ
Tam Kinh (1 quyển).
3. Đời Minh, Ngài Hoàng Tán
chú, Ngài Khai Quýnh ký, đề tựa là “Qui Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký” (2 quyển).
Tập sách này được các chùa đặc biệt dùng, vì cho lời giải của hai vị này đầy đủ
nhất.
4. Đời Minh, Ngài Đại Hương chú
giải đề tựa là “Cảnh Sách Chú” (1 quyển).
Dịch từ Hán sang Việt, có các
vị:
1. Hòa Thượng Hành Trụ dịch từ
quyển “Qui Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký”
của Ngài Hoàng Tán và Khai Quýnh.
2. Pháp sư Kiểu dịch bản “Qui
Sơn Cảnh Sách Chỉ Nam ”
của Ngài Đạo Bá.
3. Hòa Thượng Trí Quang dịch đề
tựa là “Qui Sơn Cảnh Sách Văn” in trong tập luật Sa di và Sa di ni.
4. Thầy Hoàn Quan dịch trong
Phật Tổ Tam Kinh.
Chánh văn “Qui Sơn Cảnh Sách” vừa cô đọng vừa có âm điệu, nên ở đây tôi giảng chánh văn để quí vị thấy giá trị văn chương và ý nghĩa
cô đọng trong lời Ngài dạy.Trước giải thích tên luận: Qui Sơn Cảnh
Sách.
“Qui Sơn” là ngọn núi Qui, nơi
Thiền Sư Linh Hựu giáo hóa bốn chúng. “Cảnh Sách”. Cảnh là đánh thức những
người đang mê chưa ngộ. Người tu chúng ta tuy đã phát tâm xuất gia học đạo,
song còn mê say trong dục lạc, thường quên lãng việc tu hành. Nên Ngài dùng
phương tiện đánh thức chúng ta nhớ lại bổn phận và trách nhiệm của người xuất
gia để nỗ lực tiến tu, đó là cảnh. Sách nghĩa là roi da.
Thường người cưỡi ngựa muốn cho ngựa chạy nhanh, dùng roi da tróc tróc
cho nó chạy. Cũng vậy, muốn sách tấn thúc đẩy người ta cũng phải dùng lời để
răn nhắc cho tiến. Tông chỉ của bộ luận này, chủ yếu của Tổ là đánh thức người
tu chúng ta nỗ lực tiến tới chỗ cứu cánh của người xuất gia.
Chánh Văn:
“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị
miển hình lụy. Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành. Tuy nãi
tứ đại phù trì, thường tương vi
bội. Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ.
Triêu tồn tịch vong, sát-na dị thế. Thí như xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức
vô; ngạn thọ, tỉnh đằng, khởi năng trường cửu. Niệm niệm tấn tốc, nhất sát-na
gian, chuyển tức tức thị lai sanh. Hà
nãi yến nhiên không quá?”.
Dịch:
Bởi do nghiệp trói buộc mà có
thân, tức chưa khỏi khổ lụy về thân. Bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, tạm mượn các
duyên hợp thành. Tuy nhờ tứ đại giữ gìn, nhưng chúng thường trái nghịch.Vô
thường, già, bệnh chẳng hẹn cùng người. Sáng còn tối mất, chỉ trong khoảng sát-na
đã qua đời khác. Ví như sương mùa xuân, mốc sáng sớm, phút chốc liền tan. Cây
bên bờ vực, dây trong miệng giếng há được lâu bền. Niệm niệm qua nhanh, chỉ
trong khoảng sát-na, chuyển hơi thở đã là đời sau, sao lại an nhiên để ngày
tháng trôi suông vô ích?
Giảng:
“Phù nghiệp hệ thọ thân, vị miển hình lụy”. Do nghiệp
trói buộc lôi cuốn nên chúng ta phải thọ nhận thân này. Sau khi thọ nhận thân
này rồi thì sao? “Vị miển hình lụy”, tức chưa khỏi được cái khổ lụy về
thân. Ngài nói có sự trùng hợp với Lão Tử: “Ngô hữu đại
hoạn vị ngô hữu thân”, vì ta có thân nên có họa lớn. Lão Tử thấy do
có thân nên có họa, song chưa nói đến nguyên do nào mà có thân. Tổ Qui Sơn nhìn
theo con mắt của nhà tu Phật. Ngài thấy thân chúng ta sở dĩ có đây không phải
ngẫu nhiên mà có, mà là do nghiệp chướng buộc lôi kéo chúng ta ra đây thì không
thể nào tránh khỏi đau khổ. Đó là Ngài chỉ rõ nguyên nhân của sự đau khổ khi
mang thân này. Nhưng tại sao nghiệp lôi mình được và sao mình dại dột để cho
nghiệp lôi? Vấn đề này tôi sẽ dẫn vài thí dụ nhỏ để quý vị thấy. Đây là chúng
ta tìm tột cùng cái nguyên nhân thuở trước, khi chúng ta chưa có thân này, do
cái gì thúc đẩy lôi cuốn chúng ta có
thân? “Cái thúc đẩy lôi cuốn” trong nhà Phật gọi là (2)“nghiệp”. Nhưng nó lôi cuốn
bằng cách nào? Kinh Phật nói, con người có ba nghiệp là thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Thân, miệng, ý tạo tác thành nghiệp rồi, thì nghiệp thúc
đẩy lôi cuốn chúng ta phải thọ thân sau và tùy theo nghiệp thiện hay ác mà dẫn
chúng ta đến chỗ tốt hay xấu. Vậy nghiệp là gì? Nghiệp là động tác của thân,
miệng, ý; động tác ấy lập đi lập lại nhiều lần thành thói quen, và khi đã thành
thói quen, thì nó có sức mạnh chi phối, dắt dẫn con người theo nó. Với mắt phàm
tục thì không thấy biết nghiệp, nhưng đối với bậc thánh giả thì thấy có bạch
nghiệp và hắc nghiệp. Nên khi nhìn người, bậc thánh giả biết người ấy có chủng
nghiệp lành hay dữ. Do trước kia tạo nghiệp lành hay dữ, khi sanh thân hoặc khổ
hoặc vui; đó là nói theo tương đối thế gian. Còn nói theo đây thì dù cho thân
sang hèn nghèo giàu gì cũng đều khổ hết, đó là tinh thần khổ đế của đạo
Phật. Như vậy, do tạo nghiệp mà phải thọ thân sau, nên quí vị không lấy làm lạ,
khi nghe các vị tu hành đắc đạo nói quá khứ, vị lai của một người nào đó, là do
mắt huệ của các Ngài thấy được thiện nghiệp hay ác nghiệp của vị đó, và cũng
không làm lạ đối với những nhà tướng số, căn cứ trên phước tướng nhiều ít mà
đoán đúng hậu vận của con người. Thế nên nhiều người cho rằng mình có sẵn số
mạng như thế nên thầy coi trúng. Nhưng trúng với ai và trật với ai? Chỉ trúng
với những người dung thường, khi sanh ra họ cứ theo nghiệp cũ mà sống, không
biết chuyển đổi nghiệp. Nhưng đối với những người hơi phi thường thì số mạng có
đổi; chẳng hạn như những người xuất gia. Tử vi của mọi người chung chung là lớn
lên lập gia đình có con cái, có chức phận v.v… Nhưng với người khoảng 15 tuổi
xuất gia thì không có gia đình, không có con, không có chức phận, như vậy là đã
cải số rồi. Nếu cho số mạng là cái định sẵn mà mọi người phải y theo đó để
sống, không thể chuyển đổi thì quá lầm lẫn. Nghiệp có thể chuyển được, chuyển
từ nghiệp dữ thành nghiệp lành và ngược lại. Thế nên có lắm người trước thì say
mê trong dục lạc, sau bừng tỉnh xa lìa dục lạc trở thành người cao thượng, và
cũng có người tốt, gặp duyên bạn bè hư đốn quyến rũ chạy theo làm điều xấu ác.
Nói đến nghiệp là nói đến động tác của thân, khẩu, ý và động tác ấy có thể
chuyển đổi từ xấu trở thành tốt và từ tốt trở thành xấu.
Nay nên biết nghiệp chi phối lôi kéo con
người như thế nào? Thí dụ một người có thói quen mở radio nghe nhạc, vào mỗi
tối lúc 8 giờ, đêm nào cũng thế, thành thói quen. Bỗng một hôm radio hư không
nghe được nhạc, người ấy cảm thấy buồn buồn, ngay lúc đó nhà hàng xóm mở radio,
thói quen thúc đẩy người ấy tìm tới để nghe nhạc. Thói quen (nghiệp) không có
hình tướng nhưng có sức mạnh thúc đẩy, chi phối con người làm theo nó. Đó là
thói quen của tai. Bây giờ là thói quen của miệng, có người khi nghe nhạc thì
miệng huýt sáo ca hát, tay chân nhịp theo điệu nhạc. Một hôm đến chỗ trang
nghiêm. Lý đáng phải ngồi nghiêm chỉnh, nhưng ngồi một hồi cảm thấy buồn bèn
nhịp đùi huýt sáo, vì đã thành thói quen rồi. Còn có những thói quen tệ hơn nữa
là hút thuốc, ăn trầu, uống rượu, hút á phiện v.v…
Vậy động lực nào bắt con người hút thuốc, ăn
trầu, uống rượu? Có phải tại thói quen chăng? Thói quen trở thành tập nhiễm và
có sức mạnh thôi thúc khiến con người làm theo nó. Nhà Phật gọi đó là nghiệp,
chính nghiệp mình tạo rồi trói buộc và mình đi thọ sanh mà mình không hay biết,
tưởng lý do này lý do kia bắt mình sinh ra đời, bắt mình chịu khổ. Tất cả chỉ
là cái duyên bên ngoài, mà động lực chính là nghiệp lành hay nghiệp dữ khiến
cho mình khổ hay vui. Điều mà mọi người phải ghi nhớ là thân không tạo nghiệp
ác mà tạo nghiệp thiện, miệng không nói lời hung dữ mà nói lời lành, ý không
nghĩ ác mà nghĩ thiện; cứ như thế mà chuyển nghiệp thì mình làm chủ được mình
không bị nghiệp sai sử. Và chúng ta có đủ can đảm, đủ sức mạnh xây dựng,
sắp đặt cho cuộc sống ngày mai của chính
mình và chịu đựng những gì xảy đến, mà không than trách ai cả. Nếu không hiểu
như thế cứ để cho dòng định mệnh lôi cuốn tới đâu thì tới. Người hiểu rõ nghiệp
và biết tu thì phải gắng mà chuyển nghiệp, người tu là những con thuyền vững
lái, gió mặc gió, nước mặc nước, chúng ta cứ nhắm đích mà tiến, chớ để gió dập nước cuốn. Nói
đến nghiệp là nói đến sức mạnh tự chủ, không phải là thái độ yếu đuối phó mặc
cho số mệnh, để rồi việc không xong, hỏng thì đổ thừa cho nghiệp.
Đây, Tổ Qui Sơn chỉ cho chúng ta thấy cái
nhân có thân này là do nghiệp, hoặc nghiệp lành nghiệp dữ; nếu thọ thân trong
cảnh tốt được sung sướng an vui là do tạo nghiệp thiện, còn thọ thân trong cảnh
xấu chịu khổ đau là do tạo nghiệp ác.
Biết được
khổ vui là do nghiệp mình tạo, để gan dạ chịu, không than oán khi gặp khổ, và
cố gắng chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, nếu ta còn luân hồi. Hoặc gan dạ
cắt dứt mọi trói buộc của nghiệp để được
tự tại trong tam giới, đó là tu.
Ngược lại
biết rõ nghiệp, mà vẫn đầu hàng, phó
mặc cho nó chi phối lôi trì, là không biết tu vậy. Còn taọ nghiệp là phải thọ
thân, mà có thân thì khổ, vì thân này vô thường hoại diệt, dù là vua chúa hay
ăn mày cũng không thoát khỏi vô thường, nên gọi là hình lụy. Có thân là có đủ
các nỗi khổ nào là sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, thù oán gặp gỡ…
Chỉ khi nào cắt dứt nghiệp thì không thọ thân và dứt luân hồi sanh tử. Không
thọ thân không có nghĩa trở thành hư không, mà lúc ấy muốn độ ai thì tùy nguyện
đến cứu giúp họ. Khi làm xong việc rồi đi một cách tự tại, chớ không bị nghiệp
chi phối ép ngặt.
“Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên
nhi cộng thành”. Chúng ta do nghiệp mà có thân. Vậy có thân bằng cách nào? Do sự
luyến ái giữa cha mẹ, mà tinh cha huyết mẹ hợp lại thành bào thai, rồi do
nghiệp thúc đẩy thần thức gá vào bào thai.
Bào thai ấy
nhờ tứ đại bên ngoài bồi bổ từ từ qua sự hô hấp ăn uống của mẹ, lớn dần thành
hình tướng, đầy đủ các bộ phận. Và sau khi ra khỏi lòng mẹ, lại cũng nhờ tứ đại
bên ngoài bồi bổ nuôi dưỡng lớn lên.
“Tuy nãi tứ đại phù trì, thường tương vi
bội”. Tuy rằng thân này do tứ đại phụ giúp để nó được tồn tại. Nhưng
trong khi gìn giữ nó vẫn thường trái nhau. Vì đất không ưa gió, nước không ưa
lửa, lửa gặp nước lửa tắt, đất gặp gió đất rung rinh.
Nếu bốn đại
mất quân bình thì thân không an. Khi gió thịnh thì thân đau nhức, khi đất thịnh
thì hơi không thông, khi nước nhiều lửa ít thì thân ốm gầy… Con người tuy có
nhiều bệnh, song chỉ do bốn đại bất hòa mà ra. Muốn cho thân an ổn phải điều
hòa bốn đại, nếu thấy đại nào mạnh thì hạn chế, đại nào yếu thì bồi bổ thêm,
khéo điều hòa thì nó tồn tại, không khéo điều hòa thì nó tan rã. Trong sự chung
hợp đó luôn có sự chống trái nhau, không bao giờ an ổn, chẳng khác nào kẻ nuôi
giặc trong nhà. Đã nuôi giặc trong nhà thì dù chúng ta có khôn ngoan thế mấy,
cũng không tránh khỏi chuyện nổi loạn. Vì vậy mà từ xưa đến nay có nhiều người
Ấn Độ tập Yoga, và ở Trung Hoa thì vận khí công luyện đơn, để giữ cho thân này
sống lâu. Tuy mọi người cố duy trì mạng sống lâu dài, nhưng chẳng mấy ai được
như ý. Nếu khéo giữ lắm chỉ được vài trăm năm rồi cũng mất. Biết là giặc trong
nhà mà muốn giữ nó còn mãi mãi, thì đó là quan niệm sai lầm. Chúng ta chẳng
khác nào kẻ đi biển bị chìm thuyền, vớ được gốc cây mục, nương theo nó để
vào bờ. Nếu nghĩ rằng nhờ gốc cây này mà
mình khỏi chết chìm, rồi ôm gốc cây giữ nó mãi, đó là quan niệm sai lầm. Đạo
Phật không có quan niệm đặt nặng thọ mạng dài ngắn, mà chỉ biết ngày nay có
thân, phải biết lợi dụng nó tiến tu cầu giải thoát.
Chỉ cần
nương nó để tới bờ an ổn, khi tới bờ rồi nó trở thành vô nghĩa. Chúng ta phải
hiểu rõ đạo Phật lấy giác ngộ làm chính,
chớ không phải giữ thân sống lâu làm chính. Còn những pháp tu ngoại đạo thì đặt
nặng sự duy trì thọ mạng lâu dài, nên ai cũng thích, nhưng đâu ngờ ái thân là gốc của luân hồi. Thế nên
đạo Phật không bao giờ đề cập đến sống lâu, mà cốt làm sao cho giác ngộ, nghĩa
là phải dứt ái, vì gốc của ái là chấp ngã. Nên trong khi tu nếu bị bệnh, nhờ
cái bệnh đó thấy thân này sắp hư hoại, không còn luyến ái nó, sẽ được thoát
khỏi luân hồi. Đó là chủ yếu của sự tu hành. Vì thế, mở đầu Tổ Qui Sơn chỉ cho
chúng ta thấy có thân là có khổ, vì nó là cái bại hoại.
“Vô thường lão bệnh bất dữ nhân kỳ”. Vô thường
ở đây chỉ cho già bệnh chết. Cái già, cái bệnh, cái chết nó chẳng hẹn với
người. Chẳng hạn như tôi đây lo tu, lo làm Phật sự nhìn lại thì đầu đã bạc,
răng đã rụng! Hòa Thượng Giám Đốc cũng đã từng nói: Tôi còn hai việc phải làm
là sửa sang lại Đại Tòng Lâm và xây dựng cơ sở phiên dịch, thế mà tuổi tác
không cho phép tôi làm. Ngài muốn làm lắm, song thấy vô thường sắp đến không
còn làm kịp, vô thường chẳng hẹn với ai cả. Hiện tại tôi hứa hướng dẫn quí vị
tu học ba năm, nhưng biết đâu nửa chừng bị ngã bệnh, hoặc cái chết nó đến. Đã
biết rõ vô thường không hẹn, thế nên hôm nay làm được việc gì hãy làm, chớ hẹn
ngày mai. Đừng nghĩ tôi mới hai mươi tuổi vội gì tu, tôi có thể sống tám mươi
tuổi kia mà, chừng già tu cũng chẳng muộn. Nhưng có ngờ đâu mới ba mươi tuổi
lăn đùng ra chết, chết rồi làm sao tu? Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương Phật nói
điều này rất rõ ràng. Phật hỏi một vị Tỳ Kheo:
-
Mạng người sống được bao lâu?
Tỳ Kheo trả lời:
-
Mạng người sống được vài hôm.
Phật nói:
-
Ông chưa rõ đạo.
Phật hỏi vị khác, vị ấy trả lời:
-
Mạng người sống chừng bữa ăn.
Phật cũng nói:
-
Ông chưa thấy đạo.
Phật lại hỏi vị khác nữa, vị ấy trả lời:
-
Mạng người chỉ trong hơi thở.
Phật nói:
-
Ông đã thấy đạo.
Chúng ta
thở ta hít vô được thì còn sống, nếu thở ra mà không hít vô thì chết ngay. Đó
là một lẽ thật, tất cả mọi người đều chết như vậy. Trong nửa chừng bữa ăn, nếu
thở ra mà không hít vô cũng ngã ra chết, thì đâu trọn bữa ăn. Thường chúng ta
nghĩ cuộc sống là chặng đường dài bảy tám mươi năm, nếu ngắn nhất là đôi ba
ngày hoặc chừng bữa ăn. Nhưng dưới mắt Phật, mạng sống chỉ trong hơi thở. Thế
nên còn thở ra hít vô được, thì chúng ta ráng tu, kẻo ngày nào đó thở ra mà
không hít vô, thì tu không kịp. Nếu cứ lo tính chuyện trăm năm là kẻ si mê
không thấy đạo, đức Phật đã chỉ cho chúng ta một lẽ thật. Thấy được lẽ thật là
tỉnh giác, không thấy lẽ thật là si mê. Mạng người đã không lâu bền tại sao
chúng ta lại hẹn? Nên nhớ rằng vô thường không hẹn với mình, thì mình cũng
không có quyền hẹn với ai hết. Ngày nào còn sống là ngày đó phải hạ thủ công
phu để tự lợi, lợi tha cho đầy đủ. Chớ nói ba năm nữa hãy bắt đầu làm việc này
việc nọ đó là si mê. Chúng ta phải luôn luôn giác ngộ lẽ này.
“Triêu tồn tịch vong, sát na dị thế. Thí như
xuân sương, hiểu lộ, thúc hốt tức vô; ngạn thọ, tỉnh đằng khởi năng trường
cửu”. Ngài diễn tả cảnh vô thường sớm còn chiều mất, chỉ trong khoảng
sát-na, đã qua đời khác giống như sương mùa xuân buổi sáng long lanh trên ngọn
cỏ, nhưng nắng vừa lên là đã tan rồi. Sự sống của chúng ta chẳng khác chi sương
đọng trên đầu cành, mới long lanh đó liền khô mất.
Ví như cây
dựa vực thẳm; có những cây đứng sát bờ sông sâu, chỉ một cơn gió là lật nhào
xuống nước, chẳng có chút gì bảo đảm. Mạng sống lại giống như dây bò qua giếng.
Trong kinh, Phật dụ có một người phạm tội, bị vua xử voi giày. Khi voi rượt,
người ấy cắm đầu chạy,
đến một cái giếng liền nhảy xuống vì sợ voi đạp.
Giếng sâu
người ấy thấy sợi dây mọc qua thành giếng, liền nắm dây tuột xuống, giữa chừng,
lại gặp ba con rồng phun lửa lên hừng hực, đành bám chặt sợi dây ở lưng chừng.
Người ấy tính dựa vào thành giếng để có điểm tựa bảo đảm, song nhìn thấy có bốn
con rắn độc lè lưỡi. Bấy giờ kẻ tử tội chỉ đeo sợi dây lơ lửng, lên xuống qua
lại đều chẳng được. Oái oăm thay có hai con chuột một trắng một đen thay nhau
gặm sợi dây, sắp đứt. Mạng sống của người tử tội thật mong manh làm sao! Thế
mà, trong khi bối rối, người ấy ngửa mặt lên bỗng có năm giọt mật rơi vào
miệng, vị ngọt của mật làm cho người ấy thích thú quên hết nỗi nguy nan khổ sở
mà mình đang đối diện. Thử hỏi người ấy mê đến bực nào? Phật dùng ví dụ này để
diễn tả sự say mê của chúng sanh. Voi rượt kẻ tử tội, dụ cho hành khổ và hoại
khổ, tức là vô thường đang bức bách con người đi đến cái chết. Sợi dây bên
giếng, dụ cho mạng sống con người quá mỏng manh. Ba con rồng phun lửa, dụ cho
ba độc tham, sân, si đang thiêu đốt con người. Bốn con rắn độc, dụ cho bốn đại,
đất, nước, gió, lửa không hòa hợp rã tan bất cứ lúc nào. Hai con chuột đang gặm
mòn sợi dây, dụ cho ngày và đêm; mỗi giây phút trôi qua là sinh mạng mòn dần… Năm
giọt mật dụ cho ngũ dục lạc là tài, sắc, danh, thực, thùy, mà người đời đang
say đắm, quên đi cái khổ vô thường to lớn đang bức bách con người. Chư Phật và
Bồ Tát mười phương nhìn thấy chúng sanh say mê ngũ dục, không nhớ vô thường đang bức bách hoành hành, các Ngài
khởi lòng từ bi phương tiện tế độ. Trong kinh Pháp Hoa dụ chúng sanh say mê ngũ
dục, như những trẻ con đang ở trong nhà lửa cháy hừng hực, mà cứ mãi mê vui đùa
không chịu ra. Ông cha muốn cứu các con khỏi nạn lửa, bèn dụ bằng các món đồ
chơi đẹp lạ, các con vì ham đồ chơi, mới chịu ra khỏi nhà lửa. Ở thế gian này
có ai nhận thấy mình đang say mê, hay vẫn cứ vỗ ngực xưng ta là người tri thức
khôn ngoan? Đang si mê mà chẳng biết mình si mê mới thật là đại si mê. Nếu si
mê mà biết mình đang si mê, thì khả dĩ lóe được chút ít trí tuệ. Mạng sống của
con người mong manh chẳng khác chi sương đầu ngọn cỏ, cây đứng bên vực sâu, dây
bò qua thành giếng, chẳng có chi lâu bền mà tự đắc vui sướng trong cảnh đó. Kẻ
nào tự đắc và hài lòng trong cảnh ấy là kẻ đại si mê, không mảy may thức tỉnh.
Thế nên Tổ đánh thức cái mê lầm ngàn đời của chúng ta.
“Niệm niệm tấn tốc, nhất sát-na gian,
chuyển tức tức thị lai sanh. Hà nãi yến nhiên không quá”. Mỗi niệm
mỗi niệm qua nhanh, chỉ trong thời gian ngắn nhất là một sát-na (một niệm), nếu chuyển hơi thở là
qua đời sau rồi. Thở ra mà không hít vào thì thân hiện tại này không còn hoạt
động nữa; gió (hơi thở) làm cho cơ thể hoạt động, gió ngừng, hoạt động cũng
theo gió mà đứng, tim không đập, máu ngừng chảy, thế là qua một đời. Vậy mà
người đời cứ ngồi yên để cho ngày tháng trôi qua. Tổ sách tấn chúng ta: biết rõ
cuộc đời là vô thường, mạng sống chỉ trong hơi thở, phải nỗ lực tiến tu, chẳng
lẽ ngồi chơi nhàn nhã cho qua ngày tháng, chẳng là ngu dại lắm ư!
Tóm lại, Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ nguyên
nhân đưa đẩy con người sanh ra đời, là do nghiệp dẫn, nên không thể tránh khỏi
sự đau khổ về nỗi vô thường hư hoại của thân. Sở dĩ con người có ra và tồn tại
là nhờ các duyên chung hợp, bốn đại hỗ tương. Nhưng bốn đại vẫn chống đối nhau
khiến thân này tiêu mòn dần… chỉ trong khoảng sát-na, một hơi thở ra không hít
vào là đã qua đời khác. Vậy thì:
“Đâu thể an
nhiên để ngày tháng qua suông vô ích”. Lời trách
cứ này của Tổ, chẳng khác nào ngọn roi quất mạnh, khiến chúng ta thức tỉnh mà
cố gắng tu.
Chánh Văn:
“Phụ mẫu bất cung cam chỉ,
lục thân cố dĩ khí ly, bất năng an quốc trị bang, gia nghiệp đốn quyên kế tự.
Miến ly hương đảng, thế phát bẩm sư. Nội cần khắc niệm chi công, ngoại hoằng
bất tránh chi đức. Huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly”
Dịch:
Đối cha mẹ chẳng dâng ngon ngọt,
với lục thân chí quyết bỏ lìa. Không thể an nước trị dân, nghiệp nhà trọn không
nối dõi. Xa làng biệt xóm, cắt tóc theo thầy. Trong thường nhớ nghĩ công phu.
Ngoài rộng mở hạnh hòa kính. Thoát hẳn thế trần, mong cầu giải thoát.
Giảng:
Đoạn này Tổ trách những người xuất gia
không nỗ lực cố gắng tu.
“Phụ mẫu bất cung cam chỉ”, đối với
cha mẹ chúng ta không nuôi dưỡng món ngon vật lạ.
“Lục thân cố dĩ khí ly”. Lục thân
là chỉ cho thân bằng quyến thuộc. Theo sách Nho hồi xưa chia ra làm sáu: cha,
mẹ, anh, em, vợ, con. Câu này nói đối với thân bằng quyến thuộc lại cố xa lìa.
“Bất năng an quốc trị bang. Gia nghiệp đốn
quyên kế tự”. Không thể an nước trị dân, sự nghiệp gia đình chúng ta đều buông
bỏ, không nối giòng kế tự.
“Miến ly hương đảng”, tức là xa
lìa làng xóm. “Thế phát bẩm sư”, tức là cạo tóc theo Thầy học đạo.
Đoạn này Tổ chỉ cho chúng ta thấy cái gan
dạ siêu xuất của người xuất gia.
Thông
thường, theo Nho giáo thì cho rằng trách nhiệm lớn lao của người con hiếu là
nuôi dưỡng cha mẹ, kế tục sự nghiệp gia đình. Bây giờ chúng ta đi tu là bỏ cha
mẹ, bỏ quyến thuộc bạn bè. Đối với quốc gia chúng ta không phải là tôi trung,
đối với gia đình thì không sanh con để nối nghiệp. Bỏ lìa tất cả để cạo tóc
theo Thầy học đạo, tức là chúng ta không muốn làm theo hạnh nghiệp thế gian mà
muốn cái siêu xuất thế gian. Nhưng vào chùa một thời gian, chúng ta lại đi kết
tình chị em với người này, kết tình cha mẹ với người kia. Buông cái này bắt cái
kia, bỏ cha mẹ ruột để kết tình cha mẹ nuôi với thí chủ. Như vậy xuất gia để
cầu cái gì? Có phải cầu luân hồi hay không? Có người lại đi xin một đứa nhỏ về
nuôi làm con. Thật vô lý làm sao! Cha mẹ đã không nuôi, con không sanh lại đi
nuôi con của người rồi xưng là con mình. Tình chân chính đối với cha mẹ đã cắt
đứt, lại đi kết ái từ đâu đâu… Thành ra vào chùa một thời gian lại trở thành
thế tục. Như vậy, thật là phản bội với ý nguyện xuất gia của mình, phản bội với
lý tưởng cao siêu giải thoát. Mà cái sai lầm này hầu như đầy khắp cửa chùa. Đó
là cái vô minh từ vô thỉ đến giờ nó đang che mờ chúng ta.
Đã biết
cuộc đời là vô thường, ái là gốc luân hồi sanh tử. Tại sao vô chùa lại cột thêm
dây ái khác, để rồi cũng buồn, giận, khóc, than? Như huynh đệ lâu lâu giận nhau
cũng khóc… Cứ như vậy ngày qua tháng lại thì tu được cái gì? Giải thoát chỗ nào
mà dám xưng ta đây là Thích tử, là người xuất gia, dạy đạo giải thoát, trong
khi mình đang bị cột hằng trăm mối phiền não? Quí vị phải nhận thức kỹ điều
này. Đừng phản bội lại lý tưởng siêu thoát của mình. Cạo tóc theo thầy học đạo,
thì phải làm sao cho xứng đáng!
“Nội cần khắc niệm chi công” tức bên
trong phải ghi nhớ phương pháp tu của mình, không bao giờ lơi lỏng. Như trong
kinh Bát Nhã dạy hàng giờ hàng phút dùng Trí huệ Bát Nhã quán chiếu thấy ngũ
uẩn lục trần đều không thật để đừng mê lầm.
“Ngoại hoằng bất tránh chi đức”, tức là bên
ngoài mở rộng đức không tranh.
Đối với đại
chúng phải sống theo tinh thần lục hòa, sống lục hòa mới đúng tư cách của người
xuất gia. Bây giờ chúng ta xét lại coi có mấy ai được như thế? Bên trong thì
tính đủ chuyện lăng xăng là đã mất “khắc niệm chi công”. Còn bên ngoài thì chỉ
hai huynh đệ ở chung nhau cũng không hòa, như vậy thì đâu còn “vô tranh” nữa,
mà là “hữu tranh” rồi. Trong loạn tưởng ngoài đấu tranh, sống như thế, thì đạo
lý ở chỗ nào? Thế nên người xuất gia chúng ta phải nhớ bên trong không xao lãng
tu, bên ngoài sống đúng lục hòa… được vậy thì Tăng đoàn mới vững mạnh lâu dài
và đời tu của mình mới có ý nghĩa. Chỉ một câu này thôi cũng quá đầy đủ cho
chúng ta tu hành. Chúng ta phải luôn luôn nhớ: Mạng người trong hơi thở, thì có
gì đâu mà tranh nhau! Chuyện gì cũng nên xí xóa cho nhau để tu, thời gian đâu
có đợi mà ở đó tranh hơn thua, thế mới là người thức tỉnh. Còn ngược lại ở
trong chùa mà người ta nói hơn một tiếng cũng không được, thấy ai hành động có
vẻ khinh mình là không ưa, cứ chống chọi nhau hết cả thời giờ. Tuy mang hình
thức xuất gia mà tâm niệm hoàn toàn thế tục. Tu hành lơ láo như thế, thì dù một
trăm năm cũng chẳng ra gì.
Trong kinh A Hàm đức Phật có nói bài kinh
“Tứ niệm xứ” tức là bốn chỗ nhớ niệm:
1.
Quán thân bất tịnh.
2. Quán thọ là khổ.
3. Quán tâm vô thường.
4. Quán pháp vô ngã.
Phật nói
bốn pháp đó nếu người nào luôn niệm không quên, thì trong một tháng chứng quả
A-La-Hán, trong bảy ngày chứng quả A-Na-Hàm, trong một ngày chứng quả
Tư-Đà-Hàm, người nào trong một giờ không quên cũng chứng được quả Tu-Đà-Hoàn.
Theo tinh thần Bát Nhã, ở đây tôi có thể nói, người nào hằng nhớ Trí tuệ Bát
Nhã một tháng không quên, tức đã vào Thánh địa, một ngày không quên đã bước vào
bực Tam thiền, người nào một giờ không quên đã bước vào Chánh vị. Vì thế, tu là
phải luôn luôn như chữ khắc vào đá không mờ, thì tu mới tiến được. Còn chúng ta
thì chợt nhớ chợt quên, một ngày trôi qua chỉ thoáng nhớ vài ba khắc là cùng,
vì thế mà tuy tu đã lâu, rốt cuộc cũng chỉ loanh quanh trong phiền não mà thôi.
“Huýnh thoát trần thế, ký kỳ xuất ly”, “Huýnh
thoát” là ra khỏi, “ký kỳ” là hẹn
ngày. Nghĩa là chúng ta nhất định có ngày thoát khỏi cõi trần. Hai câu trước
nói bổn phận của người xuất gia, hai câu này khuyên chúng ta lập chí giải
thoát, nhất quyết tu đời này cho liễu ngộ, đừng nói rằng: Thôi tu được bao
nhiêu hay bấy nhiêu, đời sau tu tiếp nữa. Còn hẹn lần hồi như vậy, đấy là người
chưa hiểu đạo.
Phải nhất
quyết đời này thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng ta nói thế có cao vọng lắm
không? Nhiều người cho rằng: Trong kinh Phật nói phải tu ba A tăng kỳ kiếp, còn
mình tu một đời này chắc gì giải thoát? Nghĩ như vậy rồi thối tâm, cứ tu lơ là
cho qua ngày, sợ ráng tu quá thì đổ nghiệp. Vì thế, khuya thức dậy tụng một
thời công phu, kế xuống lo ăn uống, ăn xong lo đi thăm tín đồ hoặc đi lo vài
công việc trong chùa, chừng về mệt quá mở radio nằm nghe một hồi, rồi ngủ một
giấc, thức dậy lại ăn cơm, ăn xong lại ngủ v.v… Cứ thế mà tiếp diễn ngày này
qua ngày khác cuộn tròn trong vòng say mê ấy, hỏi chừng nào mới giải thoát?
Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã nói: Ngài cùng Bồ Tát Di-Lặc xuất gia tu hành một
lúc, mà Ngài thì tinh tấn nên sớm thành Phật, còn Bồ Tát Di-Lặc cứ mãi la cà
những nơi sang giàu, nên lần khần mãi đến nay cũng còn là Bồ Tát. Nhờ tinh tấn
mà vượt qua bao nhiêu số kiếp, còn giải đãi thì không biết đến chừng nào? Thuở
Phật còn tại thế, cũng có một số Tăng sĩ thấy mình không kham tiến tu được nên
xin hoàn tục. Đối với những vị ấy, tuy sống trong thời chánh pháp mà chẳng khác
chi mạt pháp, vì không tiến được. Còn chúng ta ngày nay tuy sống trong đời mạt
pháp, mà y theo lời Phật Tổ dạy nỗ lực tiến tu, khắc một chữ Tử trên trán, không
sợ chết, quyết định tu một đời này cho liễu ngộ, ấy là chúng ta đã chuyển mạt
pháp thành chánh pháp. Chánh pháp hay mạt pháp cũng gốc tại lòng mình. Quyết
chí tiến tu, ấy là chánh pháp, khởi lòng
lui sụt, ấy là mạt pháp. Phật đâu không từng nói: “Người tuy ở xa ta ngàn dặm
mà nghe lời ta dạy y cứ tu hành thì chẳng khác nào ở cạnh ta”. Như vậy chúng ta
tuy cách Phật hơn 2.500 năm mà y theo lời Phật dạy thực hành thì cũng giống như
được sống trong thời có Phật. Sở dĩ nói thời mạt pháp khó tu, là vì chúng ta
giải đãi là một, ý chí yếu hèn là hai. Nếu ở thời mạt pháp mà chúng ta lập chí
cho vững, tinh tấn không dừng thì mạt pháp đã trở thành chánh pháp.
Thí dụ: xứ mình là xứ nóng, nhưng người xứ
lạnh sang đây ở, họ trang bị phòng có máy lạnh thì họ đâu còn thấy nóng nữa.
Như vậy họ đã chuyển nóng thành mát, đổi xấu thành tốt. Đó là nói về vật chất
huống nữa là tinh thần. Như trong thời khó tu nếu ý chí chúng ta mạnh thì có
thể đổi hết. Người có chí việc khó biến thành dễ, người không có chí việc dễ
biến thành khó. Vì thế quí vị không nên than phiền, mình sống trong thời mạt
pháp khó tu, mà chỉ nên than phiền sao chúng ta lười biếng đua đòi! Như thấy
người ta sắm radio nghe vui vui, mình cũng bắt chước sắm theo; đua đòi như thế
tất bị chi phối, khi đã bị chi phối rồi thì việc tu càng ngày càng bê trễ, đó
là bệnh của chúng ta chớ không phải bệnh của thời đại. Thời đại cũng là một yếu
tố làm cho chúng ta khó tu, song biết đâu nếu chí chúng ta mạnh thì đó cũng là
cái hay giúp chúng ta tiến tu. Đừng bi quan vì nghĩ là đời mạt pháp, mà chỉ nên
tự thẹn mình không có chí. Vì thế, Tổ dạy chúng ta phải lập chí giải thoát,
nhất định chúng ta sẽ ra khỏi cõi trần một ngày gần đây, chớ không để đắm chìm
mãi mãi. Chúng ta phải luôn luôn nhớ áp dụng bốn câu này vào đời tu của mình,
mới thật là người xuất gia chân chánh.
Chánh Văn:
“Hà nãi tài đăng giới phẩm,
tiện ngôn ngã thị Tỷ Kheo. Đàn việt sở tu, khiết dụng thường trụ, bất giải thổn
tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng. Khiết liễu tụ đầu huyên huyên, đãn thuyết
nhân gian tạp thoại. Nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc, bất tri lạc thị khổ nhân. Nẵng
kiếp tuẩn trần, vị thường phản tỉnh. Thời quang yểm một, tuế nguyệt sa đà, thọ
dụng ân phồn, thí lợi nùng hậu. Động kinh niên tải, bất nghĩ khí ly. Tích tụ
tưđa, bảo trì huyễn chất. Đạo sư hữu sắc, giới húc Tỷ Kheo, tiến đạo nghiêm
thân, tam thường bất túc. Nhân đa ư thử, đam vị bất hưu, nhật vãng nguyệt lai,
táp nhiên bạch thủ. Hậu học vị văn chỉ thú,
ưng tu bác vấn tiên tri, tương vị xuất gia quí cầu y thực”.
Dịch:
Sao lại vừa mới lên giới phẩm,
liền xưng: Ta là Tỳ Kheo. Dùng của thí chủ, ăn của Thường trụ, không biết xét
nghĩ của ấy tự đâu đem đến, lại nói càn: lẽ (đương nhiên) phải hiến cúng. Ăn
rồi dụm đầu ồn náo, chỉ nói toàn chuyện tạp thế gian.
Song, một thuở đua vui, không biết vui ấy là nhân của khổ. Nhiều kiếp
theo trần, chưa từng tỉnh lại. Thời giờ mất mát, năm tháng dần dà. Thọ dụng
càng nhiều, thí chủ càng được lợi. Hết năm này sang năm khác chẳng chịu trừ bỏ.
Chất chứa càng nhiều chỉ để giữ gìn thân huyễn. Đấng đạo sư có lời dạy, răn
nhắc Tỳ Kheo: “Tiến đạo nghiêm thân, ba việc thường chớ đủ”. Người nay phần
nhiều mê đắm không thôi, ngày lại tháng qua thoạt nhiên đầu bạc. Kẻ hậu học
chưa nghe chỉ thú, phải nên rộng hỏi bậc tiên tri. Chớ nói xuất gia trọng cầu
ăn mặc.
Giảng:
“Hà nãi tài đăng giới phẩm, tiện ngôn ngã
thị Tỳ Kheo”. Đến đây Tổ cho một roi quá đau. Thọ giới rồi xưng Tỳ Kheo vì sao
lại bị quở? Tổ quở đây là quở bệnh ngã mạn. Là người xuất gia phải luôn giữ
vững ý chí, bổn phận của mình, bên trong ghi nhớ pháp tu, bên ngoài mở rộng đức
lục hòa, luôn luôn có ý chí cầu siêu thoát thế gian. Tại sao mới vừa thọ giới
lại xưng ta là Tỳ Kheo, có ý tự cao ngã mạn? Vì thế mà Tổ quở… Rồi thì:
“Đàn việt sở tu, khiết dụng thường trụ”. Tiêu dùng
của thí chủ bao nhiêu cũng không hài lòng, không biết xấu hổ, tiết kiệm, vì
xưng ta là Tỳ Kheo nên mặc tình thọ hưởng của thường trụ. Như vậy thật là trái
đạo, đã phản bội ý chí siêu thoát rồi.
Đã không
biết bổn phận lại nghĩ rằng: Mình thọ giới cao thì có quyền thọ nhận nhiều, mà
không biết xấu hổ, không lo nỗ lực tu hành. Đây Tổ lại tiếp tục quở: “Bất giải
thổn tư lai xứ, vị ngôn pháp nhĩ hiệp cúng”. Không biết
xét nghĩ của ấy từ đâu đem đến, lại bảo rằng: lẽ tự nhiên phải dâng cúng cho
mình. Phật dạy Tỳ Kheo ăn cơm phải “Tam đề ngũ quán”. Nhưng
thường chúng ta thấy phần đông chỉ quán lấy lệ, chỉ có hình thức bên ngoài chứ
chẳng thật tâm quán tưởng. Ngũ quán tức năm điều quán tưởng, đó là:
1. Xét công
mình tu hành được nhiều hay ít, và xét của ấy từ đâu đem đến cúng dường, xem
mình có xứng đáng nhận thọ hay không? Nếu không xứng mà thọ công khó nhọc của
người thì mang nợ. Vì thế, chúng ta phải luôn luôn nhớ, hổ thẹn mà cố gắng tu
hành làm sao cho xứng đáng.
2. Xét lại
đức hạnh của mình, được những điểm ưu nào, còn những điểm khuyết nào để sửa.
3. Xét ngừa
tâm tham của mình, không để nó xâm lấn. Giả sử lên bàn ăn thấy toàn rau muống
luộc rồi sanh ngán, nghĩ đến món ăn ngon. Như vậy là có lỗi tham ăn. Chúng ta
phải nhớ ngừa tâm tham ấy chớ đòi hỏi, ăn sao cũng được miễn sống để tu hành là
quí rồi.
4. Nên xem
việc ăn uống chỉ là món thuốc để trị bệnh. Như khi đói quá thì tay chân rũ
liệt, không muốn nói cũng không muốn đi, đó là bệnh chớ gì? Rồi sau khi ăn vài
chén cơm thấy khỏe… Vậy cơm là thuốc trị bệnh. Mà đã là thuốc thì dù thuốc đắng
thuốc ngọt gì cũng uống, uống cốt để trị bệnh thôi, đừng chê khen gì cả. Nếu
chúng ta ăn mà nghĩ ngon dở tức là đã lệ thuộc vào cái lưỡi, chứ không phải ăn
để trị bệnh. Nếu ăn để trị bệnh thì dù
đắng cay ngon dở gì cũng được, miễn trị được bệnh đói thì thôi.
5. Nghĩ mình tu là quyết định thành đạo nghiệp. Tức phải thể nhập
bản thể của mình, kế đó thực hành công hạnh viên mãn, cho nên mới ráng mà thọ
món ăn này, chớ chẳng phải no đủ để vui chơi. Chúng ta thấy có rất nhiều người lầm
khi nói: ăn thứ này bổ có thể lên cân, ăn thứ kia lâu ngày sẽ sụt ký… Như vậy
đó là chúng ta vì mập ốm chứ chẳng phải vì đạo nghiệp mà ăn. Chúng ta ăn cốt để
tu hành thành đạo độ sanh, đó là ý nghĩa mà Phật bắt phải quán trước khi ăn.
Thế mà hiện nay có người dám tuyên bố trước đại chúng rằng: “Ăn chay đã quá lắm
rồi, tại sao lại phải “tam đề ngũ quán?” Nghe như vậy tôi cảm thấy thực buồn.
Bởi vì chúng ta đã sẵn bệnh buông lung, nếu không hằng xét mình thì dễ bị
nghiệp lôi, nên Phật bắt chúng ta trong tất cả hành động đều phải tỉnh giác,
không để cho thói xấu xâm nhập. Khi ăn chúng ta khởi Tam đề ngũ
quán là để xứng với tư cách của người cầu giải thoát. Nếu chúng ta
không xét, không nghĩ, vừa ăn vừa cười hỷ hả nói chuyện nhảm nhí thế gian, thì
thực là trái đạo. Có người bảo rằng: “Tín đồ cúng là lẽ đương nhiên, tôi tu họ
phải cúng cho tôi ăn”. Lý luận như vậy thật là không chịu nổi. Họ có thiếu nợ
mình đâu mà phải cúng cho mình? Sở dĩ họ cúng là vì họ muốn châm một ít dâù vào
ngọn đèn Tam Bảo, để soi sáng thế gian
cho mọi người thoát khỏi mê lầm. Vì
chúng ta là những người nhân danh Tăng Bảo, giữ cho Phật pháp thường còn ở thế gian.
Tín đồ giúp chúng ta là muốn cho Phật pháp
được lâu dài, để chúng sanh được cứu giúp khỏi vòng sanh tử, chớ chẳng phải họ
giúp chúng ta ăn chơi. Nhận của tín thí thì phải đủ tư cách của người giải
thoát. Bằng tu mà tính chuyện tầm phào, bắt người cúng dường cho mình là chuyện
không thể được. Đó chỉ là lý luận của kẻ si mê lầm lạc. Đến câu: “Khiết liễu
tụ đầu huyên huyên, đãn thuyết nhân gian tạp thoại”. Là ăn xong
rồi nhóm ba hợp bảy nói chuyện ồn náo, toàn những chuyện tạp nhạp ở thế gian.
Tổ quở chúng ta không lo khắc niệm bên trong, ngoài tuyên dương pháp lục hòa mà
chỉ nói toàn chuyện thế gian. Tệ đoan ấy hầu như đã lan tràn khắp chùa chiền.
Chúng ta ít nghe bàn chuyện giải thoát mà chỉ bàn chuyện lẩn quẩn đâu đâu. Nếu
chúng ta cứ bàn chuyện thế gian, mà chuyện thế gian là chuyện trong sanh tử thì
làm sao chúng ta thoát khỏi sanh tử được. Chúng ta phải cố gắng làm sao thoát
khỏi vòng sanh tử, để rồi chèo thuyền Bát Nhã cứu vớt chúng sanh, đó mới là bản
hoài của người tu.
“Nhiên tắc nhất kỳ sấn lạc. Bất tri lạc thị
khổ nhân”. Song, một thuở đua vui, không biết vui ấy là nhân của khổ. Trong
lúc đuổi theo cái vui, chúng ta đâu biết rằng vui ấy là nhân đau khổ. Hiện tại
chúng ta tưởng bàn nói nhảm nhí, cười đùa đó là vui, nhưng đâu ngờ rằng chính
đuổi theo cái vui tạp nhạp ấy là nhân khổ sau này. Chúng ta chạy theo cái vui
sanh diệt thế gian tức không tránh khỏi cái khổ sanh tử ở ngày mai. Nhân sanh
diệt tức quả sanh diệt, mà sanh diệt tức khổ não vậy.
“Nẵng kiếp tuẫn trần, vị thường phản tỉnh”. Nhiều kiếp
rồi chúng ta đã chạy theo trần tục chưa từng có phút giây phản tỉnh. Nếu chúng
ta biết phản tỉnh thì đâu đến nỗi phải lang thang trong sáu nẻo luân hồi bao
nhiêu kiếp, rồi nay lại bị nghiệp lôi cuốn mà sanh ra đây nữa? Nếu vì nguyện độ
sanh mà có ra đây thì đâu có mê muội như thế này? Đã trôi giạt tự bao lâu nay
mà không chịu thức tỉnh, cứ chạy theo cái vui thế tục ấy, thì biết bao giờ mới
thoát khỏi luân hồi? Ngang đây, quí vị phải cố gắng đừng chạy theo ngoại cảnh
sanh diệt mà phải hằng tỉnh giác luôn luôn.
“Thời quang yểm một, tuế nguyệt sa đà”. Thời quang
yểm một là thời giờ mất mát, năm tháng dần dà. Ý nói chúng ta không biết phản
tỉnh, buông mặc cho thời gian trôi qua, thật đáng tiếc!
“Thọ dụng ân phồn, thí lợi nùng hậu”. Thọ dụng
của thí chủ càng nhiều, thì lợi của thí chủ càng lớn. Đây là lời cảnh tỉnh lớn
lao của Tổ. Nếu chúng ta thọ nhận của thí chủ càng nhiều thì thí chủ được lợi
lớn, mà phần mình thì bị tổn giảm. Như trong kinh A Hàm có đoạn nói: Một hôm
Ngài A Nan nằm mộng thấy có một cái hầm lớn, dưới hầm toàn là người tu, trên
miệng hầm có một tấm ván bắc ngang, những người cư sĩ thong thả qua lại trên
ấy. Bấy giờ Ngài A Nan mới đem điềm chiêm bao nhờ Phật giải thích, Phật dạy:
“Sau này đệ tử của ta không biết giữ gìn giới pháp, chẳng gắng tu hành, thọ
dụng của thí chủ quá nhiều mà không tu nên phải đọa, tức rơi xuống hầm. Còn
những người thí chủ phát tâm làm phước cúng dường nên được sanh lên cõi lành,
đó là hình ảnh của những người qua lại trên cầu”. Quí vị thấy như vậy có tủi
không? Chúng ta tu là để độ thí chủ, đằng này trái lại người tu đi xuống, thí
chủ đi lên. Họ phát tâm cúng dường thì họ có phước, còn mình không chịu tu thì
họa tự mang. Chúng ta phải nên nhớ kỹ điều này. Ở đây Tổ muốn chỉ cho chúng ta
thấy, nếu người được nhiều người dâng cấp rồi cho là mình có phước, ỷ lại vào
phước báu của mình buông lung xài lớn, không biết xét nét, chẳng kể nỗi khó
khăn khổ nhọc của đàn-na, thọ dụng càng nhiều thì thí chủ càng được lợi mà
chính mình lại tổn hại. Thí như người mài dao và viên đá mài. Dao của người mài
càng ngày càng bén, mà đá bị mài càng ngày càng mòn. Người thí chủ dụ cho con
dao được mài, còn người tu chẳng khác nào viên đá, người nào đến mài dao cũng
bén, còn viên đá thì thiệt thòi. Thế nên, đừng tưởng người ta cúng nhiều là
vinh hạnh, mà phải thấy đó là tiêu mòn phước đức của mình.
Nói như vậy thì sao? Mình có nên thọ cúng
không, hay nên tự túc? Đây là chỗ cần chú ý. Có lắm người nghe nói như vậy liền
nghĩ: Thôi bây giờ mình phải tự làm để ăn, rảnh lúc nào tu lúc nấy cho khỏi thọ
của tín thí, khỏi mang tội, trầm luân. Lý luận như vậy có đúng không? Hình như đa
số chấp nhận là đúng. Chúng ta nên cẩn thận, phải hiểu cho tường tận điều này
để không quanh quẩn lầm lạc.
Đạo Phật
chủ trương đi tu là làm khất sĩ làm kẻ ăn mày. Ăn mày đây không có nghĩa là rút
rỉa đồng bào, sâu mọt của bá tánh. Ăn mày đây là cốt gây duyên lành cho chúng
sanh, chớ không phải vì muốn rút rỉa khiến cho người phải khổ. Bởi vì muốn độ
người thì một là mình ban ơn cho họ, hai là họ ban ơn cho mình, đó là kết duyên
với nhau. Nếu mình và người không liên hệ gì thì khó mà độ được. Vì là người
tu, chúng ta không có của cải để ban ơn cho họ, thì trước mình nhận ăn của họ
bằng cách thọ đồ cúng dường, nhưng sau đó mình phải đem giáo pháp của Phật mà
bố thí lại. Như thế họ giúp mình cơm áo, mình giúp họ đạo lý, tuy một mặt mình
thọ ân, nhưng một mặt mình cũng ban ân. Như vậy trên đường tu tuy thấy mình như
thiếu nợ mà thật sự không thiếu. Điều này Phật đã nói rõ trong kinh A Hàm qua
câu chuyện Bà Dì Mẫu xin xuất gia: Di Mẫu Ma-Ha Ba-Xà Ba-Đề xin Phật xuất gia,
Phật không cho. Bà rất buồn khổ. Thấy vậy Ngài A Nan bạch Phật:
“Thuở xưa,
Thế Tôn được sanh ra mới 7 ngày, Mẫu hậu đã mất. Từ đó một tay Di Mẫu nuôi nấng
Thế Tôn cho đến lớn khôn, biết bao nhọc nhằn vất vả. Bây giờ Bà xin xuất gia mà
Phật không cho, chẳng lẽ Ngài không nhớ ơn sao?”. Phật trả lời:
“Chính vì
nhớ ơn mà ta đã dạy Bà thọ Tam quy ngũ giới, thế cũng đủ trả ơn rồi”.
Như vậy
chúng ta thấy cách trả ơn của người tu không phải là đem tiền tài đáp lại, mà
chỉ làm sao khiến người biết đạo, mến đạo rồi phát tâm tu hành đó gọi là đền
ơn. Thí chủ giúp ta tài sản, ta giúp lại bằng pháp. Cả hai bố thí lẫn nhau.
Giả sử nay chúng ta thọ nhận của người mà
chưa từng bố thí pháp cho họ, lỡ họ chết mất chúng ta có nợ họ hay không? Nếu
nợ thì làm sao trả đây? Chúng ta nên nhận rõ điều này để tránh khỏi lo âu.
Chúng ta nên ý thức rằng chúng ta là kẻ nợ của tất cả chúng sinh, chẳng phải nợ
riêng của một người cúng dường ta mà thôi.
Vì sao vậy?
Khi quí vị tuyên bố xuất gia tức là đã gánh vác cái nợ lớn lao của toàn thể
chúng sanh rồi. Vì bản nguyện của người xuất gia là tự cầu giải thoát và cứu độ
chúng sanh. Tức chúng ta là người gánh vác đưa đón chúng sanh qua khỏi biển
trầm luân, cho nên ai cũng là chủ nợ của mình hết. Vì thế mà tôi dám tuyên bố
một câu mạnh mẽ rằng: “Tôi là kẻ nợ của tất cả. Song, lười trả lắm! Ai biết đòi
mới trả”. Nhưng cái nợ của người tu khác người thế gian. Ngoài thế gian nợ thì
họ kéo lưng, níu áo. Còn nợ của người tu, thì chuyển làm Thầy trò. Như vậy Phật
tử cúng dường Tăng Ni, nếu họ chưa được độ trong hiện tại thì trong vị lai họ
cũng sẽ được độ, vì họ đã có gieo duyên với Tam Bảo, đã có duyên thì thế nào
cũng gặp nhau qua nghĩa Thầy trò, làm Thầy để độ trò, để cứu vớt họ qua khỏi
luân hồi sanh tử.
Thế nên,
nếu là kẻ thực tu, quyết chí cầu giải thoát thì nợ của thí chủ bao nhiêu cũng
không sợ, vì đó là gây duyên để độ người. Chỉ những ai nhát nhúa muốn an phận
thì mới sợ lẽ đó, rồi nghĩ rằng: thôi mình làm tự túc sống, chẳng dính dáng gì
đến ai hết. Phật gọi đó là ích kỷ chứ không phải vì chúng sanh. Nói tóm lại nợ
hay không nợ cũng tại nơi mình. Chúng ta có thể là kẻ nợ chịu nhiều thống khổ
nếu chúng ta không thực tu hành, không nhất tâm cầu giải thoát. Ngược lại,
chúng ta có thể là người độ thoát chúng sanh nếu chúng ta quyết chí tu hành
giải thoát.
Có lắm người quan niệm rằng, phải tu gấp
rồi nguyện sanh về một nơi nào đó (cõi Cực Lạc) yên ổn hơn để tu nữa, còn trở
lại Ta Bà khổ quá tu không được. Lý luận này rất hay đối với người không nghĩ
rằng mình là kẻ nợ của chúng sanh, hoặc tự thấy mình bất lực với hiện tại.
Nhưng đối với người có tâm niệm dũng mãnh, nhất tâm giải quyết sanh tử ngay
trong đời này và thệ nguyện cứu vớt chúng sanh, thì thấy việc cầu xin về Cực
Lạc là chưa cần thiết. Vì không hợp với tâm nguyện cao đẹp của Bồ Tát, như Ngài
Địa Tạng nguyện xuống địa ngục, nếu địa ngục chưa hết người. Ngài thề không
thành Phật (địa ngục vị không thệ bất thành Phật). Và có ai gan dạ bằng Ngài A Nan,
Ngài nguyện: Nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật, Ngài sẽ không nhập Niết
Bàn. Chúng ta là Phật tử, học giáo lý Đại thừa, thì ít ra cũng phải nguyện ở
nơi Ta Bà, nếu chưa độ hết chúng sanh thì không về Cực Lạc (hay nhập Niết Bàn).
Còn như chạy gấp về bên ấy, còn ai ở bên này chịu khổ cũng mặc kệ, thì mình yếu
đuối quá. Chúng ta đừng thấy trong sử ghi là có những vị Thiền sư đời sau trở
lại làm tướng, làm quan, làm vua hay làm người nữ… Như trường hợp ông Tô Đông
Pha trước là Thiền sư sau trở lại làm Tể quan, rồi cho đó là lui sụt. Đâu không
nhớ trong kinh Phổ Môn nói’ “Ưng dĩ Tể quan thân đắc độ giả tức hiện Tể quan
thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Phạm Vương v.v…” Bồ Tát luôn luôn tùy tha
nguyện cầu độ mà các Ngài tùy hình tướng hiện ra để độ, đó là tùy nguyện độ
tha, chứ chẳng phải các Ngài lui sụt. Có một số người lầm lẫn sợ sệt, kiếp này
không độ được thí chủ thì làm sao đây? Chẳng ngờ rằng mình đã nguyện tự giác và
độ hết chúng sanh mới thành Phật đạo, thì có gì phải sợ, chỉ sợ chúng ta không
dũng mãnh tiến tu, chớ một khi bước vào dòng đạo rồi thì dù cho có thọ của thí
chủ bao nhiêu cũng không đến nỗi đọa. Vì thế các Thiền sư thường nói: “Dù thọ
mỗi ngày một lượng vàng ròng cũng chẳng sao”. Song, chúng ta cũng có thể đọa dù
thọ nhận rất ít, nếu chúng ta buông lung tâm ý chẳng tự giác ngộ.
“Động kinh niên tải bất nghĩ khí ly. Tích
tụ tưđa bảo trì huyễn chất”. Trải qua nhiều năm mà chẳng nghĩ
lìa bỏ (việc thọ dụng quá nhiều). Chứa nhóm như thế để làm gì, chẳng qua cũng
chỉ bảo trì thân hư giả này. Chúng ta đã thấy thân này tự tánh nó là không,
duyên hợp giả có, thế mà trong chùa khi được đủ gạo ăn lại kiếm thêm mớ tiền,
đủ tiền ăn năm này lại lo năm tới, để đau thì có tiền uống thuốc, đi đâu thì có
tiền xe, tiền xài cứ thế lo hoài, lo mãi cho thân này mà sự tiến tu thì không
có. Chẳng khác nào những kẻ mê lầm ở thế gian, lo cho có sự nghiệp lớn lao,
chợt khi vô thường đến ăn năn không kịp,
thật là đáng tiếc. Vì thế chúng ta phải hằng thức tỉnh, đừng nghĩ phải làm sao
cho sung túc, chỉ cốt làm sao sống tạm qua ngày. Hãy nhớ đến hình ảnh đức Phật
khi xưa, một bình bát trên tay, đến đâu thì vào xóm làng khất thực, ai có cho
thì ăn, không cho thì bụng trống về ngủ, ngồi thiền cho qua ngày đó, hôm sau
lại đi khất thực. Chẳng riêng gì Phật mà cả mấy ngàn Tăng cũng đều như thế. Các
Ngài sống không có ngày mai, nhờ thế mà các Ngài luôn nghĩ đến giải thoát. Còn
chúng ta vì có ngày mai, tháng tới, năm sau… cho nên quên mất chuyện giải
thoát. Chúng ta bây giờ không thể theo hạnh khất thực như xưa mà chúng ta phải
tìm kế sống. Vì hoàn cảnh ngày nay khác ngày xưa. Nhưng chúng ta phải sống thế
nào cho hợp lẽ. Chỉ cần nghĩ hôm nay có sống, ngày mai có sống là đủ rồi đừng
nghĩ đến sang năm nữa mà rối loạn, tâm không an định, tâm đã không an thì tu
hành khó mà tiến bộ. Đây là chỗ cần yếu phải ghi nhớ.
“Đạo sư hữu sắc, giới húc Tỷ Kheo. Tiến đạo
nghiêm thân, tam thường bất túc”. Đạo sư đây là chỉ đức Phật, Phật
có lời răn dạy: “Các Thầy Tu muốn tiến tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân
thì ba việc thường phải chẳng đủ. Ba việc là ăn, mặc và ngủ. Chẳng đủ là hơi
thiếu một chút, chớ không phải không ăn, không mặc, không ngủ. Đôi khi chúng ta
hiểu lầm nghe nói chẳng đủ rồi thức hoài không ngủ, hoặc nhịn đói không ăn… đó
chỉ là gốc bệnh. Người thế gian thì ngày ba bữa lại thêm các món ăn chơi, chúng
ta ăn ít hơn họ một chút thì sáng ăn sơ sài gọi là tiểu thực. Trưa ăn đầy đầy
một chút gọi là ngọ trai. Chiều uống chút bột cho ấm bao tử, ngồi thiền khỏi
xót ruột, ấy là thiếu đó. Nếu chiều ăn một bữa đầy bụng thì dư rồi.
Thiếu một
chút đó là để mình “tiến đạo nghiêm thân”. Mặc cho thế gian quần này áo nọ,
chúng ta chỉ vài bộ vải bô cho ấm thân thôi. Về ngủ, người thế gian bảo phải
ngủ 8 tiếng mới đủ sức khỏe, thì chúng ta ngủ khoảng 7 tiếng thôi. Ăn, mặc, ngủ
ta đều bớt thì sự tu hành mới dễ tiến. Trên đường tu chúng ta phải luôn nhớ hạn
chế bớt ba việc này.
“Nhân đa ư thử đam vị bất hưu, nhật
vãng nguyệt lai
táp nhiên bạch
thủ”. Người đời đa số đối với ba việc ăn, mặc, ngủ thường mê thích
không thôi. Ngày qua tháng lại, sực nhớ thì tóc đã bạc rồi! Người thế gian đối
với việc ăn thì chạy đua tìm món ngon vật lạ. Còn mặc thì nay quần này, mai áo
nọ thay đổi luôn luôn.
Ngủ thì
phải làm sao cho êm ấm, ngủ cho ngon. Suốt cả cuộc đời chỉ lo ăn, mặc, ngủ! Có
nhiều người nói có vẻ cao thượng, nào là lo cho gia đình, xã hội v.v… nhưng
chung qui cũng vì bản thân mình trước đã, mà vì bản thân mình cũng là vì cái
ăn. Nói thế nghe tầm thường quá, song quí vị thử xét lại rồi sẽ thấy trên thế
giới này, người ta đã gieo rắc bao thống khổ cho nhau, cũng chỉ vì miếng ăn mà
ra cả.
Nhân loại
vì tranh ăn mà phải đắm chìm trong chiến tranh khổ não chẳng những riêng loài
người mà tất cả chúng sanh đều như thế. Hầu hết nguyên nhân các cuộc đấu tranh đều
là vì miếng cơm manh áo. Người đời vì say mê theo đó để ngày tháng trôi qua,
phút chốc bạc đầu. Còn chúng ta là người thức tỉnh thì phải khác hơn chứ đừng
như thế. Nếu cứ mãi lo ăn mặc ngủ mà không chịu tiến tu thì thật đáng hổ thẹn!
“Hậu học vị văn chỉ thú, ưng tu bác vấn
tiên tri, tương vị xuất gia quí cầu y thực” Đến đây Tổ
quất cho một roi đau điếng. Những người học đạo sau này nếu chưa nghe, chưa
hiểu lý đạo thì nên rộng hỏi những vị biết trước mình, để chỉ bày cho mình rõ
đạo lý; chứ không phải suốt ngày chỉ lo ăn, mặc, ngủ để đến già chẳng hiểu mảy
may. Nếu như thế ấy sẽ bị bảo là người xuất gia mà chỉ vì cầu ăn mặc chẳng ích
chi cho mình, cũng chẳng lợi cho người. Vì thấy người tu không ý thức bổn phận
của mình, nên Ngài quở trách để chúng ta ráng vươn lên, đừng mãi lẩn quẩn trong
vòng ăn mặc như người đời, mà mất hết đạo nghiệp.
Chánh Văn:
“Phật tiên chế luật khởi sáng
phát mông. Quỹ tắc oai nghi tịnh như băng tuyết. Chỉ trì tác phạm thúc liễm sơ tâm, vi tế điều chương
cách chưổi tệ. Tỳ ni pháp tịch tằng vị thao bồi, liễu nghĩa thượng thừa khởi
năng chân biệt. Khả tích nhất sanh
không quá, hậu hối nan truy. Giáo lý vị thường thố hoài, huyền đạo vô nhân khế
ngộ”.
Dịch:
Phật trước tiên chế luật để mở
mang hạng sơ cơ. Phép tắc oai nghi sạch như băng tuyết. “Chỉ trì tác phạm” để
kềm thúc kẻ sơ tâm, điều luật chi li để cải sửa những điều dở tệ. Trường giới
luật chưa từng học hỏi thì liễu nghĩa thượng thừa làm sao lãnh hội? Đáng tiếc,
một đời luống qua, sau rồi ăn năn đâu kịp. Giáo lý chưa từng để lòng, đạo huyền
nhân đâu khế ngộ?
Giảng:
“Phật tiên chế luật khởi sáng phát mông”. Tổ dạy
chúng ta muốn tu học đúng tư cách người tu phải đầy đủ ba môn học: Giới, định,
huệ. Trước, Phật chế luật để mở mang chỉ bày cho kẻ sơ cơ (mông, là kẻ đồng
mông, tức sơ cơ).
“Quỹ tắc oai nghi tịnh như băng tuyết”. Chúng ta
mới thọ giới thì bao nhiêu oai nghi giới luật Phật chế ra phải cố giữ gìn đúng
đắn, trong sạch như băng tuyết.
“Chỉ trì tác phạm thúc liễm sơ tâm”. Thế nào là
chỉ trì, tác phạm? Chỉ là trì, là gìn giữ. Tác là phạm. Như trong năm giới của
người tại gia, giới thứ nhất là không được sát sanh. Không sát sanh gọi là trì
giới, có nghĩa là ngưng việc ấy không làm, tức “chỉ trì”. Còn nếu làm việc ấy
gọi là phạm giới, tức “tác phạm”. Vì người mới vào đạo, tâm còn buông lung
nhiều nên phải nhờ giới luật để kềm chế, chẳng khác nào dùng lồng để nhốt con
khỉ không cho nó chạy nhảy tứ tung. Đây gọi là “thúc liễm sơ
tâm”.
“Vi tế điều chương cách chưổi tệ”. Vi tế điều
chương là những phần giới luật nhỏ nhiệm. Thí dụ giới của Phật tử tại gia, Phật
cấm năm điều; còn giới của Sa di đến mười điều. Mười giới này nhỏ nhiệm hơn năm
giới trước, như giới không đeo tràng hoa, ướp nước hoa. Việc làm này có hại ai
đâu, nhưng sao Phật lại cấm? Vì đối với Phật tử tại gia Phật chỉ cấm tà dâm,
còn đối với hàng xuất gia Phật cấm hẳn việc dâm dục. Nếu còn đeo tràng hoa, ướp nước hoa, còn trang sức,
tức nói lên lòng ái nhiễm vẫn còn. Mà lòng ái còn thì tuy giới thô không phạm,
nhưng ái vi tế trong tâm có phạm. Lỗi tế không tránh được thì lỗi thô một ngày
nào đó có thể sẽ phạm. Phật muốn người xuất gia không phạm giới thô mà cả giới
tế cũng không phạm, nên mới chế ra những điều luật nhỏ nhiệm. Tu càng cao thì
giới càng vi tế, cốt để tẩy sạch những tâm niệm xấu xa. Như khi mình ăn mặc dơ
bẩn thì thấy mình cũng tầm thường thôi, nhưng khi ăn mặc sang trọng, ướp nước
hoa thơm phức thì lúc đó thấy mình sang đẹp quá, phải không? Chính khi khởi
niệm đẹp và sang trọng đó là nhiễm ái đã sanh. Cho nên chúng ta đừng coi thường
những giới luật Phật chế ra, cho rằng không có gì hại lắm. Sở dĩ Phật cấm là để
ngừa tâm ái nhiễm của chúng ta, để chúng ta hằng xét lại mình vậy.
“Tỳ ni pháp tịch tằng vị thao bồi, liễu
nghĩa thượng thừa khởi năng chân biệt”. “Tỳ ni” là chỉ cho luật.
“Pháp” là chỉ cho pháp, “tịch” là chiếc chiếu. “pháp tịch” nghĩa là hội nghe
pháp ngồi dưới chiếu. Câu này ý nói trường giảng luật mình chưa từng đến thưa hỏi thực hành, thì đối với
“liễu nghĩa thượng thừa” làm sao rành rẽ được. Chúng ta bước chân vào đạo,
trước phải lấy giới luật làm sợi dây để cột tâm buông lung vọng tưởng phần nào,
kế đó mới đem những giáo lý cao siêu ra ứng tu hành để thoát khỏi mê lầm. Vì thế,
ở đây tuy là một Thiền Viện, song cũng phải giữ tối thiểu 10 giới làm căn bản.
Có nhiều vị cho rằng tu thiền cần gì giữ giới?
Quan niệm
của tôi thì không như vậy. Nếu tâm chúng ta được nhất như thì giới luật cũng
bằng thừa. Nhưng tâm còn xao động, còn đang chạy theo sáu trần mà không có giới
luật làm sao ngăn nó nổi? Giới luật chẳng khác nào hàng rào của Tu viện vậy.
Hàng rào có cổng khóa đàng hoàng thì trong khó ra, mà ngoài cũng khó vào, nhờ
vậy mà hạn chế được tâm phóng túng. Sau đó mới học cách tọa thiền ngồi yên một
chỗ. Đến khi nào tất cả trong chúng đây tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng ứng dụng
Bát Nhã, hoặc dùng Bát Nhã chiếu soi chẳng phút giây quên, hoặc hằng sống với
tâm nhất như không bao giờ loạn động, thì lúc đó có hàng rào của Tu viện cũng
bằng thừa. Còn bây giờ tâm mình còn loạn, ngồi lại thì nhớ người này, nghĩ việc
nọ, nên phải cần có hàng rào để ngăn chặn, bớt những cái nghĩ tưởng sằng bậy
của chúng ta. Cũng vậy, giới luật là hàng rào để gìn giữ thân tâm. Muốn đạt đến
chỗ cao siêu trước phải lấy giới luật làm căn bản lúc sơ cơ, sau ứng dụng liễu
nghĩa thượng thừa mới dễ thành tựu.
“Khả tích nhất sanh không quá hậu hối nan
truy”. Đáng tiếc một đời luống qua, về sau hối hận khó kịp. Nếu chúng
ta vào chùa mà cứ chạy theo ăn mặc, ngủ nghỉ, không học luật cũng chẳng hiểu
đường lối tu hành, cứ để một đời trôi qua, sau ăn năn không kịp. Vì thế, nay
khi còn khỏe mạnh đầy đủ sức lực, chúng ta phải nghĩ đến sự giải thoát cho
chính mình và cứu độ chúng sanh mà nỗ lực tiến tu.
Như vậy dù
sống 40, 50 tuổi thôi cũng có giá trị. Còn trái lại dù sống đến 100 tuổi cũng
không có ý nghĩa gì.
“Giáo lý vị thường thố hoài, huyền đạo vô
nhân khế ngộ”. Giáo lý chưa từng học hỏi huân tập, thì huyền đạo làm sao mà khế
ngộ được. Ở trước, Tổ quở chúng ta không học luật giữ giới, đến đây Tổ quở
chúng ta không học giáo lý (tức kinh điển của Phật). Bởi vì có lắm người cạo
tóc xuất gia vào chùa, mà chỉ biết có việc đầu hôm Tịnh độ khuya công phu, cho
đó là đủ. Như thế để ngày tháng dần qua, chỉ lấy việc công quả bình thường cho
là tròn bổn phận, đâu ngờ cái đó chỉ là việc lơ láo qua ngày. Đến phút tắt hơi
mới thấy mình mờ mịt chẳng rõ lối đi. Vì thế, người có chí xuất gia trước phải
hiểu rành luật lệ của Phật dạy, kế đến hiểu sâu giáo lý thì mới mong tiến trên
con đường cao siêu giải thoát. Chữ “huyền đạo” đây có nghĩa giáo lý cao siêu
của Phật, mà cũng có nghĩa là tông chỉ của Thiền Tông.
Tu học có
ba môn giới, định và huệ. Giới, định, huệ là ba môn then chốt, người vào đạo
không thể thiếu được, thiếu ắt không rõ đường đi. Đây Tổ trách chúng ta về lỗi
không tu học.
Chánh Văn:
“Cập chí niên cao lạp trưởng,
không phúc cao tâm, bất khẳng thân phụ lương bằng duy tri cứ ngạo, vị am pháp
luật, tập liễm toàn vô, hoặc đại ngữ cao thanh xuất ngôn vô độ. Bất kính thượng
trung hạ tọa, Bà la môn hội tụ vô thù. Oản bát tác thanh thực tất tiên khởi.
Khứ tựu quai giác, tăng thể
toàn vô, khởi tọa chung chư động tha tâm niệm. Bất tồn ta ta quỹ tắc, tiểu tiểu
uy nghi, tương hà thúc liễm hậu côn, tân học vô nhân phỏng hiệu”.
Dịch:
Đến lúc tuổi đời đã cao, tuổi
hạ cũng lớn mà bụng rỗng tâm cao, chẳng chịu nương gần bạn lành chỉ biết một bề
kiêu ngạo. Chưa thông kinh luật, sự thúc liễm trọn không, hoặc lớn tiếng to lời
nói năng vô độ. Chẳng kính thượng trung hạ tọa, khi tụ họp giống Bà la môn
không khác. Khua bát ồn ào, ăn rồi dậy trước. Đi đứng ngang càn, Tăng thể trọn
không, ngồi đứng lăng xăng khiến người
động niệm.
Chẳng gìn mảy phép tắc, chút oai nghi. Lấy gì thúc liễm hậu sanh, tân học
nương đâu bắt chước?
Giảng:
“Cập chí niên cao lạp trưởng, không phúc
cao tâm”. Tổ quở người xuất gia mà không chịu học đạo nên mắc phải lỗi lớn
là “bụng rỗng tâm cao”, tức ngã mạn. Nghĩ mình ở chùa lâu nên xem thường những
kẻ mới xuất gia trong khi mình thì “bụng trống”. Nhưng lỡ lớn tuổi rồi nếu đi
học với người nhỏ thì mắc cỡ. Vì thế mà:
“Bất khẳng thân phụ lương bằng duy tri cứ
ngạo”. Không chịu gần gũi những bằng hữu tốt, chỉ biết một bề kiêu
ngạo. Tóm lại, tuy ở trong chùa lâu, mà không hiểu rành Kinh luật, không rõ
đường lối tu hành, nhưng đi học với người khác thì sợ đệ tử cười, nên chỉ ôm
lòng ngạo nghễ chứ không chịu gần gũi học hỏi với ai cả.
“Vị am pháp luật tập liễm toàn vô”. Vì chưa
hiểu pháp, không thông luật nên không biết phương cách để tự thúc liễm. Do
không biết thúc liễm lấy mình thì:
“Hoặc đại ngữ cao thanh xuất ngôn vô độ”. Tức là lớn
tiếng to lời, nói năng vô độ. Tổ quở những người xuất gia ở chùa mà nói năng
rổn rảng, ưng nói gì thì nói, không biết dè dặt chừng mực, không biết nói lời đức
độ khiêm nhường… Do cái lỗi không chịu học luật nghe pháp vậy.
“Bất kính thượng trung hạ tọa Bà la môn hội
tụ vô thù”. Không biết kính những bậc thượng trung hạ tọa, khi tụ họp lại
giống Bà la môn không khác. Khi xưa, các vị Bà la môn mỗi khi tụ họp thì ai đến
trước ngồi trước ai đến sau ngồi sau, không biết kính người lớn cũng chẳng tôn
trọng người đức hạnh, gặp đâu ngồi đó không có thứ tự. Trong nhà Phật thì không
thế. Người có giới đức thì ngồi trên người ít giới đức hơn. Vì sao đạo Phật chủ
trương bình đẳng mà ở đây lại phân cao thấp, thứ lớp như vậy? Đạo Phật bình
đẳng trên lý nhân quả, chớ không phải bình đẳng bằng sự ép buộc hay khỏa bằng
ai cũng như ai. Người nào có nhân tốt hơn tức được quả tốt hơn. Thí dụ ở thế
gian một ông thợ rèn rèn được 5 con dao thì được 50 đồng, còn một ông khác cần
mẫn hơn rèn được 7 con dao thì được 70 đồng, nhân như thế thì quả như thế, đó
là bình đẳng. Cũng vậy, một vị tu 10 năm thực sự có giới đức phải trên người
chỉ tu có 7 năm, tùy theo nhân quả mà đoán định. Đôi khi chúng ta chấp vào hai
chữ bình đẳng rồi thấy trong chùa bất bình đẳng, nhưng thật sự trong chùa căn
cứ trên nhân quả mà sự sắp đặt có sai biệt, tuy sai biệt mà bình đẳng, bình
đẳng mà sai biệt. Chủ trương của đạo Phật là như vậy. Nếu chúng ta không học
giới luật, không biết đạo thì làm sao chúng ta biết kính người có đức hạnh, do
đó mà khi tụ hội chẳng có thứ lớp giống như Bà la môn. Tổ lại tiếp tục quở:
“Oản bát tác thanh thực tất tiên khởi”. Khi ăn thì
khua chén bát nghe rổn rảng, lùa húp ào ào, ăn xong buông chén đứng dậy đi
không có trật tự, không chờ đợi ai hết.
“Khứ tựu quai giác, tăng thể toàn vô”. “Khứ” là
đi, “tựu” là đến. “Quai giác” là trái chọi nhau. Nghĩa là đi đứng trái lẽ,
ngang càn không đúng pháp, không có đủ tư cách của một ông Tăng. Lại thêm:
“Khởi tọa chung chư động tha tâm niệm”. Thuở xưa ở
Trung Hoa các Thiền viện (còn gọi là Thiền đường hay Tăng đường) là chỗ ở của
chư Tăng, trong đó có kê giường san sát nhau để nằm nghỉ, và khuya đến giờ thức
chúng thì toàn chúng đều thức dậy và ngồi thiền trên đơn của mình. Ngồi thiền
phải ngồi cho hết giờ, nếu nửa chừng mà xả ra đứng dậy khua lộp cộp, thì làm
động niệm người bên cạnh. Sở dĩ có những hành động thô tháo như trên đây là do
không rành luật lệ, chẳng biết oai nghi nên:
“Bất tồn ta ta quỹ tắc, tiểu tiểu oai nghi.
Tương hà thúc liễm hậu côn, tân học vô nhân phỏng hiệu”. Không còn
một chút phép tắc, một mảy may oai nghi thì lấy gì dạy dỗ kẻ sau, người mới học
nương đâu bắt chước? (Nếu có bắt chước cũng chỉ toàn những chuyện sai lầm) Tự
mình đã không có tư cách phép luật thì làm sao dạy dỗ người khác được? Thế mà:
Chánh Văn:
“Tài tương giác sát, tiện
ngôn ngã thị sơn Tăng. Vị văn Phật giáo hành trì, nhất hướng tình tồn thô tháo.
Như tư chi kiến, cái vị sơ tâm dung đọa, thao thiết nhân tuần, nhẩm nhiễm nhân
gian toại thành sơ dã. Bất giác lủng chủng lão hủ, xúc sự diện tường. Hậu học
tư tuân vô ngôn tiếp dẫn. Túng hữu đàm thuyết bất thiệp điển chương. Hoặc bị
khinh ngôn, tiện trách hậu sanh vô lễ, sân tâm phẫn khởi, ngôn ngữ cai nhân”.
Dịch:
Vừa mới được người cảnh giác
liền xưng: Ta là “Sơn Tăng”. Chưa nghe lời Phật dạy để hành trì, cứ một bề giữ
tánh thô tháo. Sở dĩ thấy biết như vậy, chỉ vì tâm ban đầu biếng nhác và theo
thói ham ăn mê ngủ. Dần dà theo đời hóa thành thô kệch. Chẳng hay lóng cóng yếu
già, gặp việc xây mặt vào vách. Hậu học thưa hỏi không biết lời chi hướng dẫn.
Dẫu có giảng nói cũng không hợp với kinh điển. Nếu bi khinh chê liền trách hậu
sanh vô lễ. Tâm sân nổi dậy, lớn tiếng nạt người.
Giảng:
“Tài tương giác sát, tiện ngôn ngã thị sơn
Tăng”. Ở Trung Hoa tăng sĩ có hai thành phần. Một là những vị sư ở kinh
đô vì gần vua và dân chúng đông đảo nên giữ oai nghi nghiêm chỉnh. Hai là những
vị sư ở núi vì ít người lai vãng nên tự do, không giữ gìn oai nghi. Vừa được
người nhắc nhở liền xưng “Ta là Sơn Tăng” mà không chịu nhận lỗi để sửa. Đó là
lỗi chồng thêm lỗi.
“Vị văn Phật giáo hành trì, nhất hướng tình
tồn thô tháo”. Bởi chưa từng nghe lời Phật dạy để tu hành nên trong lòng còn
giữ một bề thô tháo. Chỉ tính toán chuyện thế gian, tuy xuất gia mà chẳng hợp
đạo tí nào.
“Như tư chi kiến, cái vị sơ tâm dung đọa,
thao thiết nhân tuần”. Sở dĩ có thấy biết như vậy chỉ vì ban đầu lười
biếng, không chịu học luật, học giáo lý, chẳng biết tu hành mà chỉ lo ăn, ngủ.
Thật là tệ hại!
“Nhẫm nhiễm nhân gian toại thành sơ dã”. Nghĩa là
dần dà theo đời, hóa thành quê kệch. Hai câu này nếu dịch thoát văn một chút
thì tôi nói là xách dù đi lang thang, chuyên đến những nhà thế tục bèn thành kẻ
quê mùa. Vì mãi đi lang thang xóm này, làng nọ thì giờ đâu mà học hỏi giáo lý,
thì giờ đâu mà thúc liễm thân tâm? Nói đến đạo lý thì mù tịt, không phải quê
mùa dốt nát là gì?
“Bất giác lủng chủng lão hủ, xúc sự diện
tường”. Bất chợt cái già lụm cụm đến, gặp việc liền xây mặt ngó vào
vách.
“Hậu học tư tuân vô ngôn tiếp dẫn. Túng hữu
đàm thuyết bất thiệp điển chương”. Hậu học thưa hỏi không có lời gì
tiếp dẫn. Nếu có nói ra cũng không hợp với kinh điển. Vì ở chùa lâu được tôn
xưng là Thượng tọa, Sư bà. Bấy giờ được người thưa hỏi thì không biết lời gì để
giải đáp. Đôi khi túng quá, không nói, sợ nó cười, nên nói đại nói càn chẳng
hợp với kinh điển. Thế mà:
“Hoặc bị khinh ngôn, tiện trách hậu sanh vô
lễ. Sân tâm phẫn khởi, ngôn ngữ cai nhân”. Hoặc bị khinh chê liền
trách hậu sanh vô lễ. Tâm sân nổi dậy, lớn tiếng át người. Kẻ hậu sanh vì thấy
hàng tu lâu là thông suốt nên đến hỏi, chẳng ngờ mình nói bậy, nó biết nên nói:
“Thầy nói vậy e lầm chăng?”. Vừa nghe thế liền nổi giận trách liền: “Hậu sanh vô
lễ”. Đã “Sân tâm phẫn khởi” thì “ngôn ngữ cai nhân” là mắng nạt đuổi đi. Đoạn
này Tổ nhằm vào cái khuyết điểm của người xuất gia không lo tu học mà quở
trách. Đây, Tổ nói tiếp hậu quả của người không tu học.
Chánh Văn:
“Nhất triêu ngọa tật tại sàng,
chúng khổ oanh triền bức bách, hiểu tịch tư thổn tâm lý hồi hoàng. Tiền lộ mang
mang, vị tri hà vãng. Tùng tư thỉ tri
hối quá, lâm khát quật tỉnh hề vi”.
Dịch:
Một mai bệnh nằm trên giường,
mọi thứ đau đớn vây quanh bức bách. Sớm tối lo nghĩ, trong lòng lo sợ bồi hồi.
Đường trước mịt mờ chưa biết về đâu. Bấy giờ mới biết hối hận ăn năn, đợi khát
đào giếng sao kịp?
Giảng:
Đến đây Tổ dùng lời trách thật thống thiết.
Một hôm đau nặng nằm liệt giường, lúc ấy các khổ dồn đến ép ngặt: thân thể đau
nhức, cổ họng tắc nghẽn… chừng ấy mới suy nghĩ lại mấy chục năm nay mình đã làm
những gì? Tu tiến thế nào? Có lợi ích gì cho ai? Thì chỉ thấy mình là con số
không. Bấy giờ trong tâm hoảng sợ, đường trước mịt mờ nào biết về đâu? Thật là
khổ! Chừng ấy mới biết ăn năn nhưng đã muộn rồi, đợi đến khát nước mới lo đào
giếng thì sao cho kịp? Vì thế bây giờ còn trẻ có duyên tốt xuất gia, lại may
mắn gặp những nơi giảng kinh dạy đạo thì phải ráng nỗ lực học hỏi tu hành, khả
dĩ mới tránh khỏi lỗi lầm này.
Chánh Văn:
“Tự hận tảo bất dự tu, niên
vãng đa chư quá cựu. Lâm hành huy hoắc,
phạ bố chương hoàng. Hộc xuyên tước phi thức tâm tùy nghiệp. Như nhân phụ trái,
cường giả tiên khiên. Tâm tựđa đoan, trọng xứ thiên trụy”.
Dịch:
Hận mình sớm chẳng lo tu, đến
lúc tuổi già nhiều điều tội lỗi. Khi sắp rời bỏ cuộc đời sự sống tan rã nhanh
chóng, trong lòng khiếp sợ kinh hoàng. (Giống như) lụa thủng chim bay, (cũng
vậy) tâm thức theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, ai mạnh kéo trước, trong tâm nhiều
mối, nặng đâu sa đó.
Giảng:
Đến đây tôi giải thích kỹ cho toàn thể quí
vị nghe và nhận được yếu chỉ tu hành, để đến phút chót mình cố tự chủ. Đối với
người thường không biết tu hành chỉ lo chạy theo danh lợi, khi sắp chết họ tự
kiểm điểm thấy mình không có phước đức, nên tâm hoảng sợ không biết mình sẽ ra
sao? Đi về chỗ nào? Tâm hãi hùng, tay chân co rút, không làm chủ được mình. Khi
ấy nếu tắt thở, thì thần thức nơi thân liền xuất ra.
Chữ “Hộc xuyên” Phật ví dụ như cái hũ ngoài
có tấm lụa bịt miệng, trong hũ có con chim. Nếu tấm lụa thủng thì con chim sẽ
bay ra chỗ nào nó thích. Cái hũ bịt miệng ấy dụ cho thân tứ đại của chúng ta,
khi thân sắc uẩn hư hoại. Tâm thức liền tùy nghiệp mà đi, nghiệp nào nặng thì
lôi mình đi trước. Thế thì thái độ của người tu khi chết phải làm thế nào?
Trong kinh Phật dạy: khi sắp chết phải được tự chủ. Nếu tu về pháp môn niệm
Phật thì nhớ niệm Phật, tu pháp môn trì chú thì nhớ câu chú. Còn chúng ta tu
thiền thì sao? Lúc ấy không nhớ gì hết phải không? Nếu không nhờ phương
tiện gì cả thì lúc ấy hoảng hốt làm sao tự chủ? Thực sự, nếu người tham thiền
đầy đủ nghị lực, khi chết họ sẽ cười. Chỉ có người chưa đủ nghị lực mới sợ.
Cũng như người niệm Phật khi đến chỗ nhất tâm bất loạn rồi, thì khi chết sẽ vui
tươi, vì thấy mình đầy đủ công đức, nhắm
mắt là được Phật rước.
Người tham
thiền cũng thế, khi thấy được tánh, đạt được đạo thì có gì mà sợ hãi?
Như Ngài
Tuệ Trung Thượng Sĩ khi có người hỏi:
- Đối với vấn đề sanh tử Ngài nghĩ sao?
Ngài đáp:
“Trường không túng sử song phi cốc
Cự hải hà phòng nhất điểm âu?”
Dịch:
“Giữa trời phỏng có đôi vành chuyễn
Biển cả ngại gì hòn bọt con”.
Với hư không vô cùng tận thì hai vành xe
trong ấy nào có nghĩa gì? Một hòn bọt nào có đáng gì với biển cả mênh mông! Hai
vành xe dụ cho sanh tử, khi chúng ta đã đạt được pháp thân thì vấn đề sanh tử
trở thành vô nghĩa. Lại nữa, pháp thân chẳng khác nào biển cả, còn sắc thân
huyễn hóa này chẳng khác nào hòn bọt. Bọt tan trở về biển nào có lo gì? Vậy thì
có gì sợ hãi? Chỉ ngại chúng ta biết bọt mà không biết biển thì mới lo sợ. Vì
thế mà đa số Thiền sư ngộ đạo rồi, đối với vấn đề sanh tử các Ngài xem như trò
chơi. “Ư chư sanh tử bất quan hoài”, đối với vấn
đề sống chết chẳng còn để lòng nữa. Lúc đó là xong, cần gì phải nghĩ mình đi
đâu.
Đây là chủ
yếu của Thiền Tông. Tổ Qui Sơn khi sắp tịch, có người hỏi:
- Hòa Thượng sau khi tịch về đâu?
Ngài đáp:
- Ta sẽ làm con trâu dưới núi, trên lưng có
đề 4 chữ “QUI SƠN LINH HỰU”. Khi ấy gọi Qui Sơn là phải, hay gọi con trâu là
phải?
Quí vị chưa thông hiểu thiền lý, nghe
chuyện này ắt hoảng hốt sanh nghi. Ông già tu hành bao năm đã được tôn làm Tổ,
mà chết làm trâu thì nguy quá, tu hành như mình chẳng biết sẽ ra sao? Thông
thường chúng ta quan niệm người tu chết thì phải về cõi Phật hoặc thành Thánh
mới được, ai ngờ Ngài nói sẽ làm con trâu. Ngài Nam Tuyền cũng nói tương tự như
vậy. Chúng ta lúc nào cũng thấy trên là Thánh dưới là phàm, muốn bỏ phàm theo
Thánh, mà còn thấy Thánh là còn thấy hai. Sự thật thì không hai, đấy chỉ là
phương tiện giả lập trong vòng tương đối mà thôi. Vì thế đối với những vị đạt
đạo thấy Phàm Thánh không hai thì nói thế nào? Thôi, làm con trâu vui vậy.
Nhưng nói thế chớ các Ngài có làm trâu đâu, chỉ cốt để phá cái chấp phàm Thánh của
chúng ta thôi. Bọt tan về biển, chớ hỏi về đâu? Vừa khởi nghĩ hỏi là đã sai
rồi. Nếu còn có chỗ về tức là còn hòn bọt, bởi vì bọt mới trôi giạt Đông Tây,
chứ khi bọt tan đồng với biển cả thì ai thấy được chỗ về? Nếu thực tình chúng
ta đã gột sạch bản ngã, dứt được tâm phàm Thánh thì có lo gì, chỉ ngại chúng ta
không dứt được mà thôi. Chẳng những Thiền sư nói bọt tan về biển mà chính đức
Phật đã từng giải thích về điều này: Có một vị Tỳ Kheo chứng A La Hán, khi vị này tịch, một Tỳ Kheo khác hỏi
Phật:
- Bạch
Thế Tôn, vị Tỳ Kheo này sau khi tịch sẽ đi về đâu?
Phật đáp:
- Vị này sau khi tịch chẳng khác nào như củi
hết lửa tắt.
Thật đơn
giản. Chính chỗ củi hết lửa tắt này khiến lắm người không hiểu và đâm hoảng,
nghĩ rằng đến đây rồi chẳng còn gì nữa. Thật sự, ở đây củi là dụ cho nghiệp,
lửa dụ cho sanh tử. Nếu nghiệp đã hết thì sanh tử đâu còn. Bậc đã chứng A La Hán,
dứt sạch nghiệp thì đâu còn sanh tử, đó là giải thoát, nên nói: như củi hết lửa
tắt. Chính đức Phật khi còn tại thế có người đặt câu hỏi: “Bạch Thế Tôn, sau
khi tịch rồi, Ngài còn hay không còn?”. Phật không đáp mà gác qua một bên cho
rằng câu hỏi vô lý. Tại sao vô lý? Vì theo quan niệm của thế gian thì hoặc là
có hoặc là không. Nếu có thì phải có hình tướng, nếu không thì là không ngơ.
Cho nên Phật không đáp còn hay không, vì nếu đáp còn thì người ta sẽ nghĩ đến
hình tướng thế này thế nọ, mà Phật là đấng đã giác ngộ thoát khỏi vòng luân hồi
sanh diệt thì đâu có hình tướng. Còn nếu đáp không, thì họ sẽ tưởng là không
ngơ, cả hai đều là bệnh, bệnh chấp “thường”, chấp “đoạn” chúng sanh luôn thấy
có hai, còn bậc giác ngộ thì không còn thấy có hai nữa. Đối với hàng Thánh giả
mà hỏi sau khi tịch đi về đâu là điều vô lý. Vì một khi thể nhập pháp thân rồi
thì tràn đầy pháp giới, tùy duyên ứng hóa, đâu hạn cuộc chỗ nơi nào, không thấy
đi cũng không thấy có chỗ để đi, đây mới thật là giải thoát. Chỉ những người
còn lẩn quẩn trong vòng sanh tử, thì Phật mới thọ ký cho họ sau khi chết sẽ về
chỗ nào đó trong lục đạo, tùy theo nghiệp của mỗi người. Nếu còn chỗ đi ấy là
còn luân hồi. Nay quí vị hỏi: Tu Thiền chết đi về đâu? Nếu tôi nói chết đi về đâu
tức tôi chỉ quí vị luân hồi. Mà ở đây tôi muốn quí vị làm sao thể nhập được
pháp thân, tùy duyên ứng hóa. Điểm thiết yếu của người tu là cốt được vô sanh,
vô sanh tức nhập Niết-bàn. Niết-bàn thì không có hình tướng, nhưng đừng nghĩ là
nó không ngơ, nói không ngơ là rơi vào “đoạn” mà nói có tướng tức lạc vào “thường”.
Cả hai đều là bệnh. Chỉ có người thể hội được mới rõ, chứ không thể giải thích
theo lối “chấp hai” của thế gian mà hiểu được.
Ở đây tôi giải thích thêm một điểm ngờ vực
nữa của người thế gian. Người thế gian cho rằng mọi người đều riêng có một linh
hồn là cái tính linh khôn ngoan sáng suốt, mà đã khôn ngoan thì sao lại chịu
vào nơi khổ? Ai cũng nghĩ rằng sau khi chết linh hồn mình sẽ sinh ra làm người
nữa và chấp chặt cho linh hồn đó là mình.
Đạo Phật
thì gọi đó là tâm thức. Cái tâm thức này tùy theo chỗ huân tập thiện ác mà đến,
chứ không cố định. Vì không cố định nên nó không phải là cái khôn ngoan biết
lựa chọn, mà chỉ tùy nghiệp mà thôi. Tâm thức khác linh hồn ở chỗ đó. Nếu nói
chúng ta có linh hồn thì sẽ tưởng như đó là một tinh thần duy nhất, nếu là duy
nhất cố định thì thiện ác, mãi mãi không thay đổi. Nhưng, tâm thức chúng ta luôn
luôn biến chuyển, gần người lành thì hấp thụ điều lành, gần kẻ ác thì hấp thụ điều
ác. Như vậy, tâm thức là một dòng thiện ác, sinh diệt, chính dòng thiện ác đó
sẽ đưa chúng ta đến chỗ lành hay dữ, nghiệp nào nặng sẽ lôi mình trước, đó là ý
nghĩa “trọng xứ thiên trụy”.
Tóm lại, Tổ chỉ cho chúng ta thấy người tu
nếu không tu đến nơi đến chốn, mà một bề chạy theo danh lợi, khi lâm chung thần
thức vừa ra khỏi thân liền bị nghiệp lôi, nghiệp nào nặng thì sẽ lôi mình
trước. Nếu thiện mạnh thì sẽ lôi mình đến chỗ lành, nhưng hưởng phước lành hết
thì sẽ rơi vào chỗ dữ. Nếu ác mạnh sẽ lôi đến chỗ dữ trước, trả hết nghiệp ác
rồi mới tới chỗ lành, đấy là tuần tự mà trả nợ, nhưng tùy chủ nợ mạnh yếu mà
lôi kéo chúng ta đến trước hay sau. Đây là chỗ chúng ta cần lưu ý.
Chánh Văn:
“Vô thường sát quỉ, niệm niệm
bất đình, mạng bất khả diên, thời bất khả đãi”.
Dịch:
Vô thường sát hại, niệm niệm
không dừng. Mạng sống không thể kéo dài, thời gian không thể chờ đợi.
Giảng:
Đây nói quỉ vô thường giết người mỗi niệm
mỗi niệm không dừng. Mạng sống không thể kéo dài hơn, cũng không thể chờ đợi
được. Như bây giờ quí vị lỡ làm một công việc gì đó chưa xong, nay hấp hối sắp
chết thì quí vị có thể hẹn với quỉ vô thường rằng: “Làm ơn đình lại cho tôi làm
xong việc rồi sẽ chết” được không?
Nhất định
là không thể hẹn. Nhưng có một chuyện hơi lạ tôi kể lại cho quí vị nghe chứ
không phải phê phán. Có một Thiền sư trong hội Ngài Diên Quang làm chức tri sự
vì bận quá nhiều việc nên Ngài không có thời giờ tu tập. Hôm đó bất chợt quỷ vô
thường đến mời Ngài đi. Ngài bèn nói: “Mấy năm nay tôi bận lo việc chúng không
có thì giờ tu, nay ông làm ơn cho tôi hẹn bảy ngày lo xong việc của tôi, chừng
ấy ông đến tôi sẽ sẵn sàng đi. Quỷ bảo: “Để tôi về thưa lại với Diêm chúa nếu
được tôi không trở lại, bằng không tôi trở lại rước Ngài liền”. Suốt trong 7
ngày đó Ngài nỗ lực tu, hết hạn quỷ vô thường đến tìm Ngài mà không thấy. Câu
chuyện này tôi không thể phê bình thật hay không thật, nhưng kể ra cho quí vị
thấy trong trường hợp này có thể đình nhưng cũng chỉ hẹn 7 ngày thôi.
Chánh Văn:
“Nhân thiên tam hữu ưng vị
miễn chi, như thị thọ thân phi luận kiếp số”.
Dịch:
Ba cõi trời người chưa thoát
khỏi thì cứ như vậy thọ thân số kiếp không thể tính bàn.
Giảng:
Ấy chỉ vì lỗi không nỗ lực tu hành, mãi tạo
nghiệp cho nên phải chìm đắm trong luân hồi, lang thang trong sáu nẻo.
Chánh Văn:
“Cảm thương thán nhạ, ai tai
thiết tâm, khởi khả giam ngôn, đệ tương cảnh sách. Sở hận đồng sanh tượng quý,
khứ Thánh thời diêu, Phật pháp sanh sơ, nhân đa giải đãi, lược thân quảng kiến
dĩ hiểu hậu lai. Nhược bất quyên căng, thành nan luân hoán”.
Dịch:
Cảm thương than thở, đau xót
cực lòng, đâu thể im lời nên cùng nhau nhắc nhở. Tủi vì sanh vào thời mạt pháp,
cách Hiền Thánh đã xa. Phật pháp lôi thôi người tu đa số biếng nhác. Thế nên,
lược bày chỗ thấy cạn hẹp của mình để khuyên bảo người sau. Nếu không bỏ tánh
kiêu căng, thì thật khó mong chuyển đổi.
Giảng:
Sau khi chỉ rõ lỗi lầm xong, đến đây Tổ
nhắc nhở sách tấn chúng ta tu hành.
Ngài thấy
chúng ta si mê quá nên lòng rất thương xót nói lên những lời thật thống thiết
để cảnh tỉnh chúng ta, thật là lòng từ vô hạn. Người xưa phần đông đều dũng
mãnh chỉ có một ít không cố gắng mà Ngài còn than trách như thế. Huống là chúng
ta ngày nay đa số đều giải đãi, ngồi thiền có một giờ đồng hồ, mà đã loạn cuồng
cả lên, đâu sánh được với người xưa cả ngày đi, đứng, ngồi nằm đều Thiền. Đôi
khi lại hiểu Phật pháp hết sức sơ sài rồi đem những tà thuyết ra truyền bá,
khiến cho Phật pháp ngày càng lu mờ. Xưa Phật làm một đàng, giờ chúng ta đi một
ngả. Tôi nói đây không phải để kích bác, mà cốt để xây dựng những cái lệch lạc
của đa số người tu hiện tại. Như đức Phật hồi thuở xưa Ngài đâu có đi đám ma,
chẳng riêng đức Phật mà ngay cả 1250 vị đệ tử của Ngài, Ngài cũng chưa từng bảo
ai đi đám ma cả. Thế mà các chùa ngày nay thì đi đám liên miên. Như một chùa có
1000 tín đồ, thỉnh thoảng có người này đau, người kia chết, rồi phải đi thăm,
đi đám, cúng 49 ngày… hết gia đình này đến gia đình khác. Cứ loanh quanh như
thế làm sao có thì giờ gạn lọc tâm tư, thì giờ đâu tu tập thiền quán? Thấm
thoát một đời qua, sự nghiệp tu hành nhìn lại nào có gì đâu??? Đến chừng sắp
chết thì kêu thiên hạ độ mình, còn ngày thường thì mình mắc “độ thiên hạ”! Là Phật
tử, chúng ta đi con đường của Phật hay đi con đường nào? Đây là sự thật khá đau
lòng. Tôi cũng biết Phật giáo ngày nay đã mang nặng màu sắc “tín ngưỡng”, nhưng
chúng ta cũng nên đặt tín ngưỡng đúng chỗ thanh cao thì hay, còn để cho tín
ngưỡng đi quá đà nó sẽ thành những hình thức khô khan, biến Tăng sĩ thành những
ông Thầy cúng. Đây là điều lầm lẫn của chúng ta vậy. Nếu chúng ta thật tâm cầu
giải thoát thì phải tạo cho mình một khung cảnh đơn giản, tránh bớt những xã
giao phiền toái, giữ gìn những nghi lễ trang nghiêm mới đúng tinh thần Phật
pháp. Như vậy mới là người vì đạo, thương mình và dẫn dắt tín đồ. Nếu không
được như thế thì e rằng mình đã lầm lại làm lầm lây cho người.
Đến đây Ngài nói thật khiêm nhường. Ngài
lược bày chỗ thấy nhỏ hẹp của mình để mà nhắc nhở người sau, mong người sau dẹp
trừ tánh kiêu căng ngã mạn để tự sửa thì mới có thể tiến được. Bằng không dẹp
trừ tánh ngã mạn thì không thể chuyển hướng được.
Chánh Văn:
“Phù xuất gia giả, phát túc
siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long Thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế
tam hữu”.
Dịch:
Phàm người xuất gia là cất bước
đến phương trời cao rộng, tâm hình khác tục. Nối thạnh giòng Thánh, hàng phục
quân ma, nhằm đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi.
Giảng:
“Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương”. Chữ
“phương” nghĩa hẹp là chỉ cho địa phương, nghĩa rộng là chỉ cho tam giới. Nghĩa
là khi đã phát tâm xuất gia chúng ta phải ý thức rằng mình sẽ thoát ra khỏi tam
giới, không còn kẹt trong vòng sanh tử nữa.
“Tâm
hình dị tục”. Mấy chữ này thật vô cùng cô đọng. Hình dị tục thì chúng ta dễ
nhận rồi như đầu trọc, mặc áo nhuộm… Còn tâm dị tục là thế nào? Người thế gian
thấy tư tưởng là thật, thân này là thật, tất cả cảnh vật chung quanh đều là
thật, nên họ mê lầm và đắm chìm trong ấy. Còn người xuất gia thì thường dùng
trí tuệ Bát nhã quán chiếu thân tứ đại là không, ngoại cảnh sáu trần đều huyễn
hóa… Hoặc giả với tinh thần Nhị thừa thấy tất cả sự vật hiện có đều là vô
thường, khổ, không v.v… đó là “tâm dị tục”. Tâm người thế gian và người xuất
gia khác nhau là như vậy. Nhưng bây giờ có lắm người xuất gia mà tâm không dị
tục, nghĩa là cũng thấy thân cảnh đều thực, cho nên cũng muốn kinh doanh, tạo
sự nghiệp gì đó ở đời. Như thế, thân tuy xuất gia mà tâm chẳng khác người thế
tục. Cho nên người xuất gia chúng ta phải nhìn lại mình, thấy thân đã khác tục
thì phải cố gắng làm sao cho tâm cũng khác tục. Nếu chỉ khác hình thức mà tâm
không khác thì chưa phải là người xuất gia. Tổ chỉ dùng bốn chữ cô đọng “tâm
hình dị tục”, nhưng đã nói lên được hoài bão của người tu là vượt ra khỏi tam
giới để:
“Thiệu long Thánh chủng” tức nối
tiếp hạt giống giác ngộ. Người xuất gia là người thắp sáng ngọn đuốc chánh
pháp, soi đường cho kẻ lầm mê, vì thế phải có tâm giác ngộ, khác hẳn thế tục
mới có đủ khả năng làm cho hạt giống Thánh được tiếp nối và hưng thịnh nữa.
“Chấn nhiếp ma quân” là nhiếp
phục ma quân, khiến chúng khiếp đảm. Chữ “ma quân” có nhiều người hiểu lầm,
tưởng là con ma có hình tướng, có nanh vuốt dễ sợ lắm. Nhưng ma quân trong nhà
Phật thì có nhiều thứ. Ở đây tôi lược nói hai thứ thôi, đó là nội ma và ngoại
ma. Nội ma là những gì làm chướng ngại tâm thanh tịnh của mình như tham, sân,
si đều gọi là ma. Thí dụ đang ngồi thiền bỗng nhớ khi nãy cô kia nói mình một câu
nặng quá. Cái nhớ đó là ma, nó làm mình mất thanh tịnh. Ngay khi đó mình dừng
lại không cho nó nghĩ tiếp đó là hàng phục ma. Hoặc thấy của rơi mà không lấy
ấy là nhiếp phục ma tham. Hoặc có ai vô cớ trêu chọc, sắp nổi nóng lên liền
nghĩ: nóng giận là bậy, nghĩ vậy nên nén xuống bỏ qua, đó là nhiếp phục được ma
sân. Vì thế chúng ta ngồi thiền trông im lìm nhàn hạ mà thật sự khi ấy chúng ta
đã tranh đấu một cách mãnh liệt với ma quân, khi ấy chúng ta là người dũng sĩ
lâm trận chứ đâu phải ngồi chơi thong thả như người lầm tưởng. Một cuộc chiến
vô hình mà vô cùng phức tạp gay go. Như thế gian đánh giặc họ dàn trận ra, hai
bên thấy nhau trận chiến là lẽ thường. Còn giặc của chúng ta là ẩn núp chẳng có
nơi chốn gì cả, chỉ đợi chúng ta sơ hở một tí là nhảy vô liền. Vì thế cuộc
chiến đấu thật trường kỳ chẳng biết bao giờ mới thái bình. Giặc quá nhiều mà
chúng ta lại không biết rõ mặt mũi chúng, những chú giặc ấy hoặc quá khứ, hoặc
vị lai, nào chuyện mới, chuyện cũ… cứ hàng hàng lớp lớp nhảy ra tấn công mình.
Vì thế chúng ta phải gan dạ và chăm chăm nhìn nó, nếu lơ là nó sẽ chiếm mất gia
bảo của mình. Cho nên người xưa nói: “Việc xuất gia chẳng phải là việc của
tướng võ có thể làm được”. Như vậy người xuất gia đánh giặc hơn cả tướng cầm
quân chứ đâu phải thường. Giả sử muốn cất một ngôi chùa mấy vị phải đi quyên
góp tiền bạc suốt ba bốn tháng trường mới tạo được ngôi chùa, như vậy cũng nhọc
nhằn đấy, song đâu có khó bằng ngồi thiền tranh đấu với chúng ma. Có người thấy
ngồi thiền im lìm một chỗ cho là tiêu cực yếm thế chẳng giúp ích gì được cho
ai, họ đâu biết chính lúc ấy phải tranh đấu hết sức gay go. Vì vậy mà phải có
thế ngồi thật vững chắc, để nhìn nó mới thắng nó nổi. Nếu lơ là nó sẽ tràn ra
mãi, rồi có ngày chúng ta sẽ mất quyền làm chủ. Muốn khôi phục lại ngôi vị của
mình thì phải đánh hết bọn ma ra ngoài. Đó là nhiếp phục nội ma. Giờ nói đến
ngoại ma. Ngoại ma có nhiều thứ như: tử ma, ma ngũ dục, thiên ma v.v… Nhưng
ngoại ma không nguy hiểm bằng nội ma. Sở dĩ ma ngoài xâm nhập tâm của chúng ta
được cũng do bọn ma bên trong móc nối. Thí dụ ngoại ma là ngũ dục: tài, sắc,
danh, thực, thùy. Nếu tâm chúng ta không còn nhiễm ái, không còn tham tiền,
không ham ăn uống, ngủ nghỉ thì ma ngoài dù có rủ rê cũng không được. Lòng tham
dục lắng xuống tức thời ma ngoài tự tiêu. Kế đến là loại ma vì nghiệp phải làm
quỷ. Loại ma này thường nhiễu hại người tu bằng cách khi chúng ta ở nơi vắng
vẻ, nó liền hiện hình hay biến tướng lạ để quấy phá. Khi thấy những tướng quái
lạ ấy chúng ta phải làm sao? Như trong đoạn đối đáp của vua Trần Thánh Tông với
Tuệ Trung Thượng Sĩ, có câu:
“Kiến quái bất kiến quái
Kỳ quái tất tự hoại”.
Nghĩa là thấy quái đến mà mình không quái
thì quái tự tiêu. Đến đây chúng ta nhớ lại chuyện Phật trị ma dưới cội Bồ-đề
trước giờ thành đạo. Ngài chẳng dùng ấn chú gì hết. Khi ma hiện trăm thứ kỳ
quái, Ngài chỉ giữ tâm an nhiên không động, một hồi lâu ma tự xấu hổ rút lui.
Tâm không động là thắng ma, còn sợ hãi thì ma thắng mình. Trong khi ngồi thiền
nếu trường hợp ma hiện đến, mở mắt thấy sợ thì nhắm mắt lại, nếu còn thấy sợ
nữa thì nên quán tưởng thân này do tứ đại hợp thành, mà thể tánh của tứ đại là
không, sáu trần đều huyễn hóa thì sợ cái gì? Tưởng một hồi thì tự nhiên nó mất,
chẳng cần bùa chú gì cả. Sở dĩ có một số người ngồi thiền phát điên cuồng là do
thấy những tướng lạ đâm hoảng hốt, sợ hãi. Giả sử đang ngồi thiền an tịnh, bỗng
có ai thình lình đi tới, lúc đó nghe tim đập thình thịch muốn xuất mồ hôi hột.
Vì lúc ngồi yên những tiếng động bên ngoài có tác động gấp mười lần khi chúng ta
đang động. Thế nên khi ngồi yên mà phát sợ thì nó tác động tinh thần, nếu động
quá độ sẽ loán lên mà phát cuồng. Quí vị nên nhớ kỹ điều này, để tránh tai hại
trong khi tu thiền. Một trường hợp nữa cũng có thể điên được, như khi đang ngồi
thiền bỗng thấy Phật đến xoa đầu thọ ký rằng: “Ông sẽ thành Phật một ngày gần
đây”. Bấy giờ mừng quá la lên, cũng thành cuồng loạn. Tâm động thấy Phật thấy
ma gì cũng là bệnh. Nên trong nhà thiền thường nói: “Phùng ma sát
ma, phùng Phật sát Phật” là ý này. Thấy ma thấy Phật gì cũng
đều tưởng đó là bóng dáng không thật, tưởng như vậy thì hình ảnh ấy
sẽ biến mất, không nên phát tâm mừng rỡ hay kinh sợ, mà chỉ giữ tâm an tịnh. Đa
số người ngồi thiền thường ở trong trạng thái nửa tỉnh nửa say, lúc ấy vọng
tưởng dấy lên thành những giấc chiêm bao với những hình ảnh tạp nhạp, rồi cho
là ngồi thiền thấy này, thấy nọ… đó là trạng thái sắp ngủ gục. Nếu lúc ấy sực
tỉnh, mở mắt sáng lên thì những hình ảnh ấy sẽ mất, nếu là ma thật thì mở mắt
vẫn còn thấy. Vì thế điểm cốt yếu là chúng ta phải nhiếp phục ma trong, thì ma
ngoài không nhiễu hại được. Nếu ma trong không dẹp, thì dù có bùa chú gì vẫn bị
ma dẫn đi như thường. Chi bằng ta dẹp sạch ma trong, tâm an định thì dù ma có
đến cũng mặc nó, ta vẫn là ta, ấy là hay nhất. Chinh phục ngoại cảnh đâu bằng
chinh phục nội ma, chinh phục mình mới là điều gay go nhất. Ngồi thiền là để tự
chinh phục ma, lũ ma vọng tưởng đã dẫn dụ chiếm đoạt cái ngôi vị làm chủ của
mình từ bao nhiêu kiếp.
“Dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu”. Nhiếp phục
được ma quân rồi, mới có thể đem công đức tu hành mà đền đáp bốn ân, cứu giúp
chúng sanh trong ba cõi. Nếu việc mình chưa xong mà lo đền ơn đáp nghĩa… thì
chưa chắc đã đền đáp được gì, đôi khi còn chướng ngại đường tu nữa. Tóm lại, Tổ
nhắc nhở người xuất gia trước phải lập chí giải thoát, tâm chớ giống người thế
tục, kế làm sáng tỏ chánh pháp và nhiếp phục ma quân. Người như thế mới khả dĩ
trên đền đáp bốn ân, dưới cứu giúp ba cõi.
Chánh Văn:
“Nhược bất như thử, lạm xí
tăng luân, ngôn hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí”.
Dịch:
Nếu chẳng như thế, xen lẫn
trong chúng tăng, ngôn hạnh hoang sơ, luống hao của tín thí.
Giảng:
Nếu chẳng làm được những điều kể trên thì
chỉ là kẻ lẫn lộn, làm ô danh chúng tăng, chứ chẳng phải là người chân chánh
xuất gia. Chữ “lạm xí” có nơi giải thích là “điểu thử Tăng” tức ông thầy chim
chuột. Nghĩa là dụ như con dơi gặp chim thì nó xòe cánh ra, bảo: tôi đây là
chim, gặp chuột thì hắn xếp cánh lại nói: tôi đây là chuột. Ông thầy chim chuột
là ông thầy cạo đầu mặc áo nhuộm trông giống người tu mà tâm chí thì lạng quạng
gặp chim làm theo chim, gặp chuột làm theo chuột.
Sống như
thế đó gọi là “lạm xí tăng luân”. Phần đông tu sĩ bây giờ là thế ấy, thường là
“điểu thử tăng” hay có chỗ gọi là “phóc cư sĩ” tức là ông cư sĩ trọc đầu.
Tuy đầu
trọc mà tâm niệm thì thế tục, làm tăng mà không có tâm hạnh của người xuất gia,
lời nói việc làm không phù hợp chánh pháp, nên gọi là cư sĩ trọc đầu.
Người như
thế chỉ luống ăn tiêu của tín thí mà
chẳng lợi ích gì cho đạo. Hãy tự kiểm vậy!
Chánh Văn:
“Tích niên hành xứ, thốn bộ
bất di, hoảng hốt nhất sanh, tương hà bằng thị”
Dịch:
“Chỗ đi năm trước, tấc bước
không rời, lơ láo một đời, lấy chi nương tựa”.
Giảng:
Chúng ta thấy có người xuất gia được 20
năm, 30 năm rồi, thế nhưng năm thứ nhứt thì Phật tại tiền, năm thứ hai Phật
thăng thiên, đến năm thứ ba, thứ tư… cho đến năm 30 thì chẳng còn thấy Phật.
Thế là càng tu càng lùi. Tôi thường nói rằng người tu giống như kẻ chèo thuyền
ngược nước, ngược gió. Trong trường hợp đó phải thế nào? Nếu quí vị có cảm thấy
quá mệt mỏi thì nên cắm sào bỏ neo đậu lại, đợi nghỉ ngơi cho khỏe rồi tiếp tục
chèo, chớ chẳng nên buông chèo mặc nó trôi giạt đến đâu cũng được. Như vậy đâu
có ý nghĩa chèo thuyền ngược dòng nữa.
Chúng ta là
kẻ đi ngược dòng đời, thế gian mê ta tỉnh, thế gian đắm chìm trong ái dục,
chúng ta là người giải thoát khỏi dòng ái dục. Vì thế, chúng ta phải luôn cần
mẫn, vững tay chèo mới có cơ tiến nổi, bằng chúng ta lơ là ắt dòng đời như thác
lũ kia sẽ kéo phăng chúng ta trở lại dòng sanh tử. Chúng ta phải tự xét lại
coi, từ khi xuất gia đến giờ trải qua 5, 10 năm rồi đã tiến được bao nhiêu hay
vẫn còn nguyên chỗ cũ? Có người thậm chí còn lùi nữa, thì than ôi, đời tu nào
có ra gì! Thật đáng hổ thẹn! Thật là: “Lơ láo một đời, lấy chi nương tựa?” Tổ
cho một roi đau điếng như vậy để chúng ta hổ thẹn, nhớ lại bổn phận của mình mà
cố gắng.
Chánh Văn:
“Huống nãi đường đường tăng
tướng, dung mạo khả quan. Giai thị túc thực thiện căn, cảm tư dị báo. Tiện nghĩ
đoan nhiên củng thủ, bất quí thốn
âm. Sự nghiệp bất
cần, công quả vô
nhân khắc tựu. Khởi khả nhất sanh không quá, ức diệc
lai nghiệp vô tì.”
Dịch:
Huống nãi đường đường tăng
tướng, (sáu căn đầy đủ) dung mạo dễ xem. Sở dĩ được như thế là do đời trước đã
gieo trồng căn lành nên đời này mới cảm quả báo thế ấy. Lại chỉ biết ngồi sửng
khoanh tay, chẳng tiếc thì giờ. Đạo nghiệp không nỗ lực chuyên cần thì công quả
do đâu thành tựu? Chẳng những đời nay luống qua, đời sau cũng sẽ vô ích.
Giảng:
“Huống nãi đường đường tăng tướng, dung mạo
khả quan, giai thị túc thực thiện căn cảm tư dị báo”.
Chúng ta ngày nay được mang thân người, sáu
căn đầy đủ, lại được xuất gia hình tướng
như Phật. Đó là do đời quá khứ đã gieo trồng căn lành, đời nay mới cảm được quả
báo tốt như vậy. Nhìn quả hiện tại biết nhân quá khứ. Cũng vậy, nhìn nhân hiện
tại, biết quả vị lai. Thế nên đời nay đã được duyên lành thì phải làm sao nữa,
chứ chẳng lẽ:
“Tiện nghĩ đoan nhiên củng thủ bất quý thốn
âm, sự nghiệp bất cần công quả vô nhân khắc tựu”. Chỉ biết
ngồi sửng khoanh tay ngu ngơ qua ngày tháng, thì chẳng những đời này không lợi
ích mà đời sau cũng không chỗ tựa nương. Ngài Hiếp tôn giả suốt đời lưng không
dính chiếu, Tổ Bá Trượng: “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. (Một ngày
không làm, một ngày không ăn). Chúng ta ngày nay vào chùa thọ lãnh của thí chủ
thì nhiều mà không siêng tu phước huệ, không biết tiếc thời giờ, một mai cởi áo
cà sa, lui mất thân người, thì thật là đáng tiếc!
“Khởi khả nhất sanh không quá, ức diệc lai
nghiệp vô tì”. Đời này không có công đức gì làm sao đời sau được tốt đẹp, Tổ
Qui Sơn có tâm lão bà tha thiết, Ngài quở rầy xong lại quở rầy. Thật là đắng
miệng khô môi, chỉ vì muốn cho con cháu đời sau được nên người xứng đáng.
Chánh Văn:
“Từ thân quyết chí phi tri, ý
dục đẳng siêu hà sở. Hiểu tịch tư thổn, khởi khả thiên diên quá thời”.
Dịch:
Từ giả thân quyến, quyết chí
mặc áo nhuộm là ý muốn vượt đến chỗ nào? Sớm tối lo nghĩ, đâu thể dần dà để
thời giờ qua mất.
Giảng:
Đây
Tổ nhắc lại bổn phận của người xuất gia, nhắc lại ước nguyện ban đầu của mình
khi từ bỏ cha mẹ, anh em vào chùa mặc áo nhuộm để chi? Chúng ta xuất gia là vì
lý tưởng cao siêu giải thoát, chớ đâu có ai nghĩ vào chùa để tìm chỗ an thân!
Thế nhưng,
dần dà chúng ta quên mất bổn phận của mình. Vì vậy, ở đây Ngài nhắc chúng ta
phải sớm tối suy nghĩ, phải thường tự hỏi: “Tại sao mình đi tu?” Thường nghĩ
nhớ lại tâm nguyện xuất gia ban đầu để nỗ lực vươn lên, chứ không nên bỏ lửng,
ăn rồi giỡn cười để ngày giờ qua mất.
Chánh Văn:
“Tâm kỳ Phật pháp đống lương,
dụng tác hậu lai qui cảnh. Thường dĩ như thử, vị năng thiểu phần tương ưng!”
Dịch:
Lòng tự hẹn làm rường cột cho
Phật pháp, gương mẫu cho đời sau. Thường xét nghĩ như thế mà còn chưa được chút
phần tương ưng.
Giảng:
Tổ nhắc chúng ta nên xét lại ý nguyện xuất
gia của mình. Khi xuất gia là trong lòng đã kỳ hẹn làm rường cột cho Phật pháp,
gương mẫu cho đời sau, chứ không phải để ăn tiêu của tín thí, không phải để làm
con mọt đục chùa. Hằng xét nét như thế mà còn chưa phù hợp được một phần nhỏ
của sự xuất gia thay, huống là tu bao nhiêu năm mà không biết mình phải làm cái
gì, thì thật là tệ! Mà muốn thực hiện được ý nguyện đó thì phải:
Chánh Văn:
“Xuất ngôn tu thiệp ư điển
chương, đàm thuyết nãi bạng ư kê cổ, hình nghi đĩnh đặc, ý khí cao nhàn”.
Dịch:
Nói ra phải hợp với kinh điển,
luận bàn phải noi theo gương mẫu người xưa, hình dung đĩnh đạc, ý chí cao nhàn.
Giảng:
Nếu thực tình chúng ta muốn làm rường cột
cho Phật pháp, làm mẫu mực cho người sau, thì nói ra lời gì cũng phải phù hợp
với kinh điển, với lời Phật ý Tổ. Phải nói đúng đắn chân thật, chẳng nên nói
bướng, nói đùa hay đặt điều nói bậy. Về thân tướng thì phải trang nghiêm, đi
đứng chỉnh tề; ý chí phải thênh thang siêu thoát, chẳng nên có những ý tưởng
thấp thỏi, tầm thường. Tổ chỉ dạy thật tường tận từ ngôn ngữ, hình nghi cho đến
ý chí… Chúng ta phải cố gắng như lời Tổ dạy mới xứng đáng là Sa Môn Thích tử,
là người chân chánh xuất gia.
Chánh Văn:
“Viễn hành yếu giả lương
bằng, sác sác thanh ư nhĩ mục, trú chỉ tất tu trạch bạn, thời thời văn ư vị
văn. Cố vân, sanh ngã giả phụ mẫu, thành ngã giả bằng hữu”.
Dịch:
Đi xa cần nương bạn lành để
thường gạn lọc tai mắt. Trú ở cần nên chọn bạn, thường được nghe điều chưa
nghe. Nên nói: sanh ta là cha mẹ, tác thành nên ta là bạn bè.
Giảng:
Chúng ta ra đi tìm Thầy học đạo cốt phải
nhờ bạn lành, Thầy tốt khiến tai mắt chúng ta được trong sạch, được nghe lời
hay, thấy được cái đẹp. Khi dừng ở cần phải chọn bạn chọn Thầy, gần được Thầy
hay bạn tốt, chúng ta mới nghe được điều lợi ích chưa từng nghe. Bằng gần ông
Thầy không hơn mình, bạn lại chẳng tốt thì dầu ở chung ngàn năm cũng chẳng lợi
gì, đôi khi lại còn lui sụt. Nên người tu cần phải chọn thầy, chọn bạn là như
thế. “Sanh ta là cha mẹ, làm nên ta là Thầy bạn”. Đây là sự thật không nghi ngờ
gì hết. Vì chúng ta có được hình vóc vẹn toàn này là từ cha mẹ mà có, nhưng
chúng ta có được trí tuệ, hiểu biết những điều siêu xuất thế gian lại chính nhờ
Thầy bạn nuôi dưỡng bồi đắp mà nên. Nhờ Thầy bạn chúng ta mới thành người hữu
ích cho chính mình và cho chúng sanh. Riêng tôi, nay được biết đạo lý giảng dạy
thế này hoàn toàn là nhờ thầy bạn, chứ cha mẹ thì không thể làm được. Có nhiều
người không may khi phát tâm xuất gia mà không gặp Thầy hay, bạn tốt, nên ở
chùa năm, mười năm hay hai, ba mươi năm rồi, vẫn lẩn quẩn cũng chỉ trong hai
thời khóa tụng, thật là tội nghiệp! Điều này cũng do phước duyên của mỗi người,
chứ thật ra lúc phát tâm đi tu, vào chùa gặp đâu ở đó, có biết đâu mà chọn. Vì
thế, chúng ta có phước duyên được gặp Thầy chỉ dạy nên người hữu dụng thì công
ơn ấy thật vô cùng to lớn.
Chánh Văn:
“Thân phụ thiện giả, như vụ
lộ trung hành, tuy bất thấp y, thời thời hữu nhuận”.
Dịch:
Gần gũi người lành như đi trong
sương móc, tuy không thấy ướt áo mà dần dần thấm nhuần.
Giảng:
Như buổi sáng sớm có sương chúng ta đi ngoài
trời, tuy không thấy sương rơi ướt áo, nhưng một lát sau cảm thấy hơi sương ướt
lành lạnh. Cũng thế, được gần Thầy lành, bạn tốt, không phải chúng ta được lành
tốt ngay, nhưng sống gần gũi lâu ngày tự nhiên có sự nhuần thấm. Nói đến đây
tôi nhớ lại Thầy tôi là Hòa Thượng Viện Trưởng, Ngài trách tôi: “Thanh Từ thuở xưa
không khác nào cục sắt do tôi mài dũa nay được thành cây kim, giờ lại không ưng
ý làm việc gì hết”. Thật đúng như thế, nay tôi được hữu dụng cho Phật pháp cũng
nhờ công thầy uốn nắn lo lắng hoàn toàn từ vật chất đến tinh thần. Vì thế, đời
tu chúng ta nếu gặp Thầy lành bạn tốt là điều may mắn, cần thiết cho sự tiến tu
của chúng ta.
Chánh Văn:
“Hiệp tập ác giả, trưởng ác
tri kiến, hiểu tịch tạo ác, tức mục giao báo, một hậu trầm luân, nhất thất nhân
thân, vạn kiếp bất phục”.
Dịch:
Gần gũi kẻ ác, thêm ác tri
kiến, sớm tối tạo ác, trước mắt chịu quả báo, chết rồi phải trầm luân. Một phen
mất đi thân người, muôn kiếp khó tìm lại được.
Giảng:
Đây là lời cảnh cáo, nếu không chịu gần
Thầy lành bạn tốt cố gắng tiến tu, mà chỉ gần gũi kẻ ác thì hậu quả sẽ thảm hại
như thế, sẽ mãi mãi trầm luân chịu mọi thống khổ, một phen mất thân này muôn
kiếp khó tìm lại. Tổ thật từ bi chỉ dạy chúng ta từng li từng tí, chỉ cốt mong
sao chúng ta thành người hữu dụng.
Chánh Văn:
“Trung ngôn nghịch nhĩ, khởi bất
minh tâm giả tai? Tiện năng tháo tâm dục đức, hối tích thao danh, uẩn tố tinh
thần, huyên hiêu chỉ tuyệt”.
Dịch:
Lời thẳng trái tai, há chẳng
ghi lòng đó sao? (Có thể) mới hay rửa lòng nuôi đức, ẩn tích mai danh, chứa
nhóm tinh thần, xa lánh ồn náo.
Giảng:
“Trung ngôn nghịch nhĩ, khởi bất minh tâm
giả tai?”. Lời nói thẳng thường trái tai, tuy trái tai song phải ghi lòng,
có thế mới tiến được. Bây giờ Tổ mới bắt đầu vào việc tu hành.
“Tiện năng tháo tâm dục đức. Hối tích thao
danh, uẩn tố tinh thần, huyên hiêu chỉ tuyệt”. Người tu
trước phải rửa tâm nuôi đức, kế đến ẩn hành tung chôn vùi tên tuổi để chứa nhóm
tinh thần cho trong sạch, muốn thế phải xa lìa chỗ ồn náo. Sở dĩ chúng ta không
thể gội rửa tâm hồn, nuôi dưỡng đức hạnh cũng chỉ vì, một phần là hiện tướng sờ
sờ, hai là tên tuổi thiên hạ đều biết. Vì hiện tướng sờ sờ nên ai thấy cũng
mời, nay đi chỗ này, mai đi chỗ nọ, đi mãi thì làm sao có ngày giờ để gội rửa
tâm thần? Vì thế người tu thường ở núi rừng xa vắng, cốt để người không gặp,
tên tuổi chẳng ai biết đến, thì mới có cơ hội uẩn tố tinh
thần.
Ngay như
tôi khi xưa suốt mấy năm lăng xăng làm việc này việc nọ, lúc ra đây nếu tôi
không tuyên bố nhập thất chắc cũng không làm gì được. Vì ai thấy cũng mời, thì
rảnh rang đâu lo việc của mình? Nhờ ẩn đi không ai biết tên thấy mặt, mới từ từ
nuôi dưỡng cái cao siêu của mình, mới gội rửa dần những cấu bợn nơi mình, rồi
sau mới có thể làm được đôi chút lợi ích thật sự cho người. Cứ mãi hòa trong
cái ngàu đục thì biết đến bao giờ mình mới trong? Vì thế, bây giờ tôi chỉ xin
hẹn với quí vị là ba năm sau đừng ai biết đến tôi. Vì mấy năm nay những gì tôi
dung chứa, gột rửa tôi đã chỉ hết cho quí vị rồi, thì giờ đây tôi phải tiến nữa
chứ không thể dừng một chỗ được. (1)Người tu phải khéo sắp đặt cho mình một
hoàn cảnh thuận tiện để tiến tu, chứ không thì mãi lẩn quẩn trong vòng ngàu đục
của thế gian mà chẳng được ích lợi gì.
Chánh Văn:
“Nhược dục tham thiền học
đạo, đốn siêu phương tiện chi môn, tâm khế huyền tân, nghiên cơ tinh yếu, quyết
trạch thâm áo, khởi ngộ chân nguyên”.
Dịch:
Nếu muốn tham thiền học đạo, là
môn vượt ngoài phương tiện, thì trong phải hợp với mé huyền và nghiên cứu tường
tận cái tinh yếu của đạo. Chọn lựa được chỗ thâm sâu rồi mới có thể khai ngộ được
nguồn chân (tức bản tánh).
Giảng:
(1) Sở
nguyện như thế mà hoàn cảnh không cho phép thực hiện. Người tham thiền học đạo
trước phải rõ đây là pháp môn vượt ngoài phương tiện. Tại sao lại thế? Như
trong kinh Phật dạy quán sổ tức hoặc quán từ bi hay quán bất tịnh v.v… thì tất
cả phương pháp tu ấy đều có danh ngôn hình tướng tức là phương tiện. Sao đây
lại nói pháp môn không phương tiện? Tôi xin nói lược rồi sẽ chỉ kỹ ở sau. Tổ Bồ
Đề Đạt Ma khi sang Trung Hoa, Ngài thấy chư Tăng thời ấy chuyên về văn tự mà
không rõ lý đạo, nên Ngài mới dạy một pháp môn gọi là “Giáo ngoại biệt truyền”
là truyền ngoài giáo lý, để dứt khoát không còn kẹt trong văn tự nữa. Rồi: “
Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”. Kiến tánh là gì? Có phải kiến tánh là
thành Phật, là có thần thông… hay không? Sao có nhiều người nói thấy tánh mà
chẳng thấy có thần thông gì hết? Nếu hiểu như vậy là chúng ta đã bị chữ nghĩa
làm rối rắm, sự thật không phải như vậy. Đây tôi phân tích để quý vị rõ.
Như trong
nhà Thiền, khi người học đạo hỏi một câu, được các Thiền sư hoặc đáp, hoặc
đánh, hoặc la hét v.v… nhờ đó người hỏi được ngộ. Vậy “ngộ” là ngộ cái gì?
Có thành
Phật chưa? Chính “ngộ” là thấy đạo hay “kiến tánh”, tức thấy được chân tánh bất
sanh bất diệt của mình. Nhận ra mình có bản tánh bất sanh bất diệt rồi, nhìn
lại thấy rõ thân này cho đến vũ trụ đều là pháp sanh diệt, huyễn hóa. Đã là
huyễn hóa thì đâu có dại dột gì đắm nhiễm chạy theo. Từ đó tiến tu mãi không
lùi thẳng đến quả vị Phật, chứ không phải kiến tánh là thành Phật ngay. Kiến
tánh là nhân, thành Phật là quả, thẳng một đường không trải qua một ngôi vị nào
khác, nên gọi giáo lý này là tối thượng thừa.
Phật đã
nói: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”, đó là sự thật. Chỉ vì
chúng ta chưa tin được nên không là “Phật sẽ thành”. Kiến tánh là chủ yếu của
người tu. Vì có kiến tánh mới có thể thành Phật được, nên Tổ chỉ thẳng vào tâm
mà không dùng phương tiện. Chỉ cái nào sanh diệt thì đừng theo, cái nào không
sanh diệt thì hằng sống, đó là không dùng phương tiện. Như trong kinh Pháp Hoa,
Phật nói: Chư Phật ra đời cốt chỉ cho chúng ta
nhận được “tri kiến Phật” của chính mình. Các Tổ Thiền Tông cũng chỉ cho chúng
ta nhận được cái sẵn có đó. Và, chính tôi giảng kinh đây cũng cốt làm sao cho
quí vị nương nơi kinh mà thấy được cái sẵn có nơi mình, chừng ấy bản hoài của
tôi đã trọn.
Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Kinh là ngón tay chỉ mặt trăng”. Như quí vị mới tập tu vào chùa,
quí Thầy dạy đếm hơi thở, rồi niệm Phật trì chú hay quán bất tịnh v.v… tất cả
cái đó đều là phương tiện. Nếu mình bám chặt phương tiện mà mình đang theo, rồi
chỉ trích pháp “không phương tiện”, đó là lầm lỗi. Phương tiện ví như cây vịn
để vịn tay lần qua cầu, người nào yếu chân sợ té thì phải nương cây để qua, còn
người nào mạnh chân thì cứ thẳng mà đi, không cần nương vịn. Qua khỏi cầu là
phải buông cây, chứ đâu có nắm hoài. Cũng vậy, niệm Phật đến vô niệm mới là cứu
cánh, khi được nhất tâm rồi thì câu niệm Phật không cần thiết nữa. Hay như
trong kinh A Hàm Phật dạy: Người nào quán Tứ niệm xứ hoặc một ngày… cho đến bảy
ngày mà không có tạp niệm thì người đó chứng quả. Còn tôi nói nếu quí vị quán
Bát Nhã từ một ngày cho đến bảy ngày mà không có niệm khác thì sẽ được Bát Nhã
hiện tiền. Những lời nói này đâu có khác. Đến chỗ cứu cánh thì phương tiện
không còn. Thế mà, vì không thực hiểu nên chúng ta chấp cho thế này là hay, thế
kia là dở. Sở dĩ không dung hội được như thế, là vì chúng ta đứng ở một khía
cạnh mà nhận xét. Nếu thật thâm hiểu sẽ thấy ngôi nhà Phật pháp chỉ có một, mà
cửa phương tiện bước vào thì có nhiều.
Ở đây Tổ Qui Sơn nói pháp môn vượt ngoài
phương tiện, lối tu này hơi khác lạ khiến người càng sợ. Thông thường, sơ cơ
thì phải tụng kinh, trì chú hoặc ngồi
thiền chăm bẫm kìm tâm, ngó chừng hễ thấy vọng tưởng dấy lên liền buông
ngay.
Luôn cầm
kiếm sẵn trong tay vừa thấy ma liền nhiếp phục nó. Đến khi dẹp hết ma quân rồi
thì ngồi chăm bẫm làm chi nữa? Như trâu đã thuần đâu cần cầm roi kéo mũi, khi
tâm đã thuần thì chúng ta phải vận dụng qua cái khác. Nếu ngồi yên tâm được yên
thì phải tập tu trong động xem nó có thật yên chưa? Chẳng hạn đi nhổ cỏ, cuốc
đất v.v… Nếu trong động mà tâm yên thì mới tiến được chớ chẳng phải ngồi mãi
một chỗ. Có người lầm tưởng ngồi 2 giờ, 4 giờ, 10 giờ… cho đến ngồi cả ngày
quên cơm nước đó là cao, nhưng thực sự không phải vậy. Ở đây tôi chỉ cho ngồi 2
giờ là tối đa, cho đến lúc nào đó quí vị thong thả dạo chơi, xem hoa ngắm
kiểng, rồi khuya dậy châm trà uống, khỏi cần ngồi thiền, mà tâm an nhiên không
động, đó mới là cao. Thiền đến chỗ cứu cánh là phải như vậy, phải thiền trong
tất cả thời, chứ không phải ngồi mới gọi là thiền. Bây giờ bắt quí vị ngồi
thiền tạm gọi là dùng phương tiện, đến khi nào vọng tưởng lặng là xong, chỉ cần
biết vọng tưởng không theo là đủ. Nếu chúng ta mượn câu trì chú hoặc niệm Phật để
tu, đến chừng muốn bỏ, bỏ không nổi thì kẹt. Thành ra tu thiền thấy như khó, vì
không có phương tiện, song đến cứu kính thì thật là dễ, vì không có cái gì để
bỏ. Chỉ cốt vọng tưởng dấy lên đừng chấp nhận, vọng tưởng hết thì tâm nhất như.
Nghe như dễ, nhưng lại rất khó. Thật ra chẳng phải dễ hay khó mà chỉ do chúng
ta có chí hay không.
Chánh Văn:
“Bác vấn tiên tri, thân cận
thiện hữu. Thử tông nan đắc kỳ diệu, thiết tu tử tế dụng tâm, khả trung đốn ngộ
chánh nhân, tiện thị xuất trần giai tiệm”.
Dịch:
Rộng hỏi tiên tri, thân gần
thiện hữu. Tông này khó đạt được chỗ nhiệm mầu, cần phải dụng tâm chính chắn.
Nếu trong ấy đạt được chánh nhân, đó chính là thềm bực giải thoát.
Giảng:
Nếu không khế ngộ được nguồn chân thì phải
tham vấn các bậc tiên tri. Chữ “tiên tri” đây có nghĩa là người đã học đã tu
trước mình. Vì tông này rất khó mà đạt được diệu chỉ, nên cần phải dụng tâm cho
chín chắn. Nếu ở trong ấy mà ngộ được chánh nhân rồi thì liền vượt khỏi cõi
trần không cần theo thứ lớp. Đây là chỗ quan trọng của Thiền tông. Thiền tông
là con đường tắt không quanh co, không
theo thứ tự, nên khó mà nhận được yếu chỉ. Nhưng nếu khéo dụng tâm và đạt được
bản nhân rồi, thì tin chắc ngay trong đời hiện tại không còn bị luân hồi lôi
kéo nữa.
Song đây không
phải là việc dễ, phải khéo cẩn thận. Có nhiều người tu thiền cầu được những
điều hay lạ, tâm chạy theo danh sắc nên đã lạc lầm đi trong sanh diệt.
Có người
muốn tu, đến đây nhờ tôi nói một câu chỉ thẳng yếu chỉ. Tôi biết nói thế nào,
chỉ có cách là học ba năm đi rồi sẽ thấy, chớ chỉ liền không thể được. Vì đây
là chỗ không hình tướng. Tuy không phải là không, nhưng khó thể chỉ bày. Quí vị
chịu khó ngày nay nghe thấm một ít, ngày mai nghe thấm một ít. Cho đến hôm nào
đó, chợt lãnh hội được yếu chỉ, thì sự tu hành mới bảo đảm không lầm. Dẫu đây
là pháp môn không phương tiện, nhưng trình độ quí vị không thể khai thông liền,
nên phải có thời gian, rồi cơ hội tốt đến, quí vị tự lãnh hội. Đó là điều mà
chúng tôi mong mỏi.
Chánh Văn:
“Thử tắc phá tam giới, nhị
thập ngũ hữu”.
Dịch:
Đây là phá 3 cõi 25 loài.
Giảng:
Kinh Lăng Nghiêm, Phật chia ra 25 cõi, nên
đây nói 25 loài. Chúng ta tu là quyết ngay đời này phải ra khỏi tam giới, dứt
vòng luân hồi. Theo tinh thần Thiền tông, chúng ta phải thấy mình chỉ là người
khách qua lại trong tam giới thôi. Chúng ta không còn bị trói buộc mà chỉ vì
tùy nguyện độ sanh nên đi vào tam giới.
Chánh Văn:
“Nội ngoại chư pháp tận tri
bất thật, tùng tâm biến khởi, tất thị giả danh”.
Dịch:
Trong, ngoài các pháp đều biết
không thật. Từ tâm biến khởi, tất thị giả danh”.
Giảng:
Một câu này, quí vị nếu nhận hiểu rồi, có
thể nói tu suốt kiếp cũng chưa xong.
“Nội ngoại
chư pháp” là các pháp bên trong và bên ngoài, tức năm uẩn và sáu trần, đối
với các pháp hằng chiếu soi thấy nó không thật ấy là giải thoát. Như trong kinh
nói: Giả sử bố thí châu báu nhiều bằng quả đất cũng chưa chắc được giải thoát.
Vì sao? Vì còn thấy mình thật, người thật, của cải thật thì đó là nhân luân hồi
(nhưng luân hồi trong cõi lành) chứ chưa phải giải thoát. Người quyết tâm giải
thoát phải luôn luôn dùng trí tuệ thấy rõ năm uẩn, sáu trần, các pháp thế gian
và xuất thế gian đều không thật. Vì sao không thật? Vì “từ tâm biến khởi?” Sở
dĩ chúng ta luân hồi trong tam giới là do nghiệp gây nên, mà gốc nghiệp là
thân, miệng, ý. Nhưng xét kỹ thì thân và miệng chỉ là công cụ của ý, ý chủ động.
Ý có nghĩ thân mới làm, miệng mới nói. Vì thế chúng ta tu là cốt làm sao cho ý
dừng lặng không còn tạo nghiệp thì còn ai lôi chúng ta vào tam giới nữa? Tất cả
phương pháp tu đều quy về chỗ đó. Niệm Phật, trì chú thì phải đến chỗ nhất tâm,
tham thiền phải bặt vọng tưởng, tức ý không còn hoạt động. Chúng ta không hiểu
thấu đáo nên chấp cho rằng tụng kinh có phước, trì chú có linh nghiệm, tham
thiền có công đức v.v… mà không biết rằng tất cả những phương tiện ấy chỉ cốt
để đập tan dòng ý thức cuộn chảy trong chúng ta. Khi ý thức lặng rồi thì tâm
thanh tịnh nhất như. Có người tu đến chỗ lặng vọng tưởng lặng rồi lại hoảng
hốt, cho rằng: mình đâu mất! Thế là cầu thanh tịnh, được thanh tịnh lại hoảng
sợ! Chẳng khác nào chàng Cùng tử trở lại quê cha, đến chừng thấy cha lại hoảng
kinh chạy trốn, buộc lòng ông cha phải dùng phương tiện dẫn dụ về làm những
công việc hèn hạ, như hốt rác, đổ phân thế mà lại hài lòng. Thật đáng thương
xót! Cũng vậy, Phật mượn phương tiện dạy chúng ta tu hành qua thứ lớp. Như tu
thiền, quán tứ đại thì trước quán thủy đại.
Quán nước
trong thân lần lần tràn khắp hư không thì được cái định thứ nhất là sơ thiền,
kế đến quán gió; lửa v.v… cuối cùng xả hết đến Diệt thọ tưởng định là chặn đứng
dòng tâm ý. Chỉ vì chúng ta không nhận nổi cái “trực chỉ”, nên Phật phải dẫn
quanh một vòng phương tiện, đến rốt cùng cũng là bặt tâm ý. Thiền tông thì chỉ
thẳng, khiến cho người hoảng hốt tưởng rằng đến đó là không còn gì nữa. Đây là bệnh
do mê lầm mà ra, chứ không có gì lạ. Vì chúng ta lâu nay hằng sống với cái hư
giả mà cho là thật, còn đối với cái thật thì lại hồ nghi. Ví như kẻ xa quê lâu
ngày muốn về thăm cha mẹ nhưng quên mất số nhà chỉ nhớ loáng thoáng con đường.
Khi đến con đường ấy cứ đi tới đi lui mãi, thậm chí dừng trước cổng nhà mình mà
cũng không biết, lại phải tìm người để hỏi.
Chúng ta
cũng vậy, khi vọng tưởng dấy lên cuồn cuộn thì ra sức dẹp, hết vọng tưởng lại
thấy không ngơ, rồi sợ mà không nhận “cái thật” trong cái không ngơ đó, nên
muốn trở lại vọng tưởng nữa. Cứ lẩn quẩn, loanh quanh tu mãi chẳng đến đâu. Đó
là vì không thấy rõ lối đi nên bị mắc kẹt, còn nếu chúng ta biết rõ manh mối
chánh yếu của việc tu, thì đi thẳng vào nhà không còn sợ sệt gì nữa. Thế nên,
Tổ dạy người tu thiền trước phải dùng trí tuệ chiếu soi thấy năm uẩn, sáu trần
thảy là không thật, từ tâm biến khởi chỉ có giả danh. Đây là giai đoạn căn bản
bước vào cửa thiền.
Chánh Văn:
“Bất dụng tương tâm thấu bạc,
đản tình bất phụ vật, vật khởi ngại nhân”.
Dịch:
Chẳng cần đem tâm nương gá, chỉ
lòng không gá vật thì vật đâu chướng ngại được người.
Giảng:
Thật là đơn giản, tu thiền là thế đó. Nếu
ngồi thiền mà tâm còn nhớ việc này, nghĩ chuyện kia gọi là “thấu bạc”. Điểm này
có người thắc mắc, như chánh tư duy là dùng một đề tài nào đó suy tới nghĩ lui,
nghiền ngẫm cho ra lý, lâu ngày nảy ra một ý kiến hay nào đó, người ta cho là
phát huệ, phải không? Thiền Tông thì không dùng như vậy. Vì như vậy thì tâm mãi
loạn, ý tạo nghiệp bao giờ mới dừng?
Ở đây cốt
đánh tan ý. Chẳng đem đề tài nào suy gẫm cả, mà chỉ không cho vọng tình chạy
theo sự vật bên ngoài. Nếu ngồi thiền mà chợt nhớ ông A, ông B là tình đã gá
vật rồi. “Vật” đây là người, cảnh bên ngoài. Nếu tâm mình chạy theo vật phải
biết mà chặn ngay. Đừng để tâm dong ruổi theo cảnh vật, đến cả danh ngôn cũng
vậy, đây là cái dễ làm cho tâm loạn nhất. Lúc đầu loạn theo cái thô lần lần đến
cái tế. Như những lời nói của cổ đức, hoặc trong kinh sách, cho đó là nghĩ lành
nên thường đuổi theo, ấy là bệnh của người tu thiền hay mắc phải. Chúng ta vừa
dấy niệm là tình đã “phụ vật” rồi. Tất cả những nghĩ tưởng của ta đều không rời
danh ngôn, sắc tướng. Khi ngồi yên không thấy người, cảnh bên ngoài. Song, nếu
chợt nhớ hình ảnh nào đó thì liền hiện ra, như có trước mắt. Hoặc nhớ câu nói
nào đó thì liền nghe vang lên trong tâm thức. Đó gọi là pháp trần. Những lúc đó
chúng ta không gá vào những vật hiện có trước mặt, nhưng gá vào bóng dáng của
vật còn lưu lại trong tâm thức, như vậy cũng là “phụ vật”, vật từ tâm biến ra.
Vì thế chủ yếu là chúng ta đừng để cho tâm gá vật. Nếu thấy người thấy cảnh mà
tâm không duyên theo thì đâu có gì chướng ngại. Dù ngọc ngà đầy trước mặt mà
tâm không dấy động, thì thử hỏi cái gì chướng ngại mình? Chướng là do ma bên
trong chực sẵn cộng thêm lũ quỷ bên ngoài nữa, mới làm nội công ngoại kích mà
phá tan thành trì giới luật và Thiền định của chúng ta. Cho nên, khi có người
hỏi Thiền sư: “Thế nào là giải thoát”. Ngài đáp: “Tâm, cảnh không đến nhau là
giải thoát”.
Đây chính
là nghĩa “tình không gá vật”. Như vậy, chúng ta thấy rõ giải thoát chẳng phải
tìm đâu xa, chẳng phải tu nhiều đời nhiều kiếp mới được. Mà chỉ “tâm cảnh không
đến nhau”, chứ chẳng có gì là kỳ lạ cả. Chỉ vì tâm cảnh dính nhau nên bị trói
buộc, chính vọng tưởng trói chúng ta vào vòng sanh tử, dứt vọng tưởng thì nhân
trói buộc đâu còn, đó là giải thoát ngay hiện đời. Sự tu hành đơn giản chỉ có
thế.
Chánh Văn:
“Nhậm tha pháp tánh châu lưu,
mạc đoạn mạc tục. Văn thinh kiến sắc, cái thị tầm thường. Giá biên na biên, ứng
dụng bất khuyết”.
Dịch:
Mặc tình pháp tánh trùm khắp,
chẳng phải đoạn dứt cũng chẳng cần tiếp nối. Nghe tiếng thấy sắc là việc tầm
thường. Bên này bên kia ứng dụng không thiếu.
Giảng:
Đến đây Tổ chỉ cho chúng ta thấy một cái gì
cao siêu rộng khắp:
“Nhậm tha pháp tánh châu lưu, mạc đoạn mạc
tục”. Khi tâm cảnh không dính nhau, chúng ta không còn lệ thuộc vào
vọng tình, cái mà hằng lâu chúng ta chấp cho nó là mình. Lúc đó cái gì là mình?
Chỉ vì lâu nay chúng ta thấy hòn bọt cho đó là biển cả, đâu ngờ nay đập tan hòn
bọt mới thấy biển cả mênh mông. Khi vọng tưởng hết, chừng ấy chúng ta mới thể
nhập pháp tánh vô biên. Chỗ này Tổ Tăng Xán gọi là “Viên đồng
thái hư, vô khiếm vô dư”. Khi tâm dừng, không chạy theo vọng
tưởng nữa đừng tưởng là hết, mà lúc ấy là lúc đập tan hòn bọt để hòa cùng biển
cả. Nơi nơi chốn chốn đều có mình. Mình không còn hạn cuộc trong cái thân nhỏ
bé này nữa mà trùm khắp hư không. Vì thế, Ngài Thiện Tài đồng tử khi bước vào
lầu các của Bồ Tát Di Lặc liền thấy vô lượng vô biên chư Phật, và mỗi chỗ mỗi
chỗ đều có mặt Ngài đang đảnh lễ. Khi nhập pháp tánh rồi thì nó tràn lan trùm
khắp, không cắt đứt cũng đừng tiếp nối, lúc đó an nhiên tự tại. Lúc đó là sống
với pháp thân. Cho nên các Tổ khi thể nhập được pháp tánh rồi thì nói một lời
là một bài kệ. Đi, đứng, nói, nín đều là đạo. Không cần đợi đến chết mới nhập
pháp thân, chỉ cần dứt vọng tưởng là được. Đến đó thì:
“Văn thinh kiến sắc cái thị tầm thường”, tức nghe
tiếng thấy sắc đều là tầm thường. Bởi vì khi đã thể nhập được pháp tánh, nhận
được cái chân thật rồi thì tất cả sự vật ở thế gian đều là ảo ảnh không thật,
không có gì đáng để chúng ta quyến luyến. Nhưng nếu chưa đến đó thì phải thận
trọng. Có một số tu sĩ sắm radio, tivi để xem, rồi hút thuốc, uống bia… tự cho
mình là người phá chấp, tự tại trong khi tâm còn đầy ắp vọng tưởng, thì đó là
ngụy biện để che mắt thế gian. Chúng ta chỉ tự tại khi nào nhập được “pháp tánh
châu lưu”, khi nào nhận được cái chân thật thì cái giả mới không màng. Ví như
một em bé nhà quê được mẹ mua cho đôi bông bằng vàng giả. Em bé hí hửng đem
khoe với bạn bè, tự hài lòng quí thích đôi bông, vì em tưởng nó là thật. Nhưng
đối với người có đôi hoa tai bằng vàng ròng hay kim cương thì đôi bông giả kia đâu
có giá trị gì. Dù cho đầy trước mắt những thứ giả ấy, họ cũng không thèm để ý
huống nữa là quí thích. Khi chúng ta vượt qua khỏi lãnh vực giả dối, tìm lại
được mặt thật xưa nay, thì khi ấy đối với thế gian này ta mới là người hoàn
toàn không ô nhiễm. Như Ngài Phù Dung nói: “Ngộ thinh
ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước
tiết”. Tức là gặp thanh gặp sắc như cây trồng trên đá, thấy lợi thấy
danh như bụi rơi vào con mắt. Đối với
người đã đạt được pháp tánh rồi thì thanh
sắc danh lợi không bám được, chẳng có chi phải bận lòng. Mà lúc ấy:
“Giá biên na biên ứng dụng bất khuyết”. Bên này
bên kia ứng dụng không thiếu. Bên này bên kia là thế nào? Là đứng về mặt xuất
thế gian thì không còn bị năm trần ô nhiễm. Còn đứng về mặt thế gian thì tùy cơ
ứng biến diệu dụng không lường. Không chấp có, không kẹt không, không mắc trong
thế gian cũng không đắm trong giải thoát.
Tự tại qua lại trong tam giới, tùy duyên
hóa độ muôn loài. Đó là chỗ cứu kính của người tu. Đoạn trên Tổ đã thổ lộ chỗ
chí yếu của việc tu để chúng ta không còn ngờ vực, đến đây Tổ lại khen ngợi để
sách tấn.
Chánh Văn:
“Như tư hành chỉ, thật bất
uổng phi pháp phục. Diệc nãi thù báo tứ ân, bạt tế tam hữu. Sanh sanh nhược
năng bất thoái, Phật giai quyết định khả kỳ. Vãng lai tam giới chi tân, xuất
một vị tha tác tắc”.
Dịch:
Nếu làm được như thế, mới thật
không uổng mặc áo pháp, cũng là đền đáp bốn ân cứu giúp ba cõi. Đời đời nếu
không thối chuyển thì quả Phật quyết chắc được nên. Làm người khách qua lại
trong ba cõi, ra vào làm phép tắc cho người.
Giảng:
Nếu đi đúng đường lối Thiền Tông như trên,
tức “ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa”, mới thật
không uổng mặc áo pháp trong nhà Phật. Chủ trương của chúng tôi ở đây là ngu
dân. Ngu dân bằng cách loại bỏ tất cả kiến thức, vì còn kiến thức là còn vọng
tưởng. Nếu khi ngồi thiền nảy ra ý gì hay liền ghi thành sách, như thế thì
chẳng bao giờ vào cửa “pháp tánh châu lưu” được. Vì thế chúng ta phải gan dạ
loại bỏ các kiến thức tạp nhạp kia ra, càng nhiều kiến thức càng tầm thường.
Muốn vượt
khỏi sự tầm thường ấy thì chỉ nên đi thẳng theo một con đường cho đến nơi đến
chốn. Ví như, người đánh máy cũng biết, đào mương cũng biết, hội họa cũng biết,
làm bếp cũng biết… cái gì cũng biết hết thì chắc chắn sẽ không giỏi hẳn một môn
nào. Người ấy chỉ có thể tùy thân hữu dụng chứ không thể thành người tài giỏi
được. Muốn thành người tài giỏi thì phải bỏ hết mà chỉ chuyên một ngành nào đó
thôi. Tất cả kiến thức khôn ngoan của thế gian hay trong đạo đều là vọng tưởng,
chẳng phải là cái chân thật, đó chỉ là những hòn bọt ngoài bể cả, nào có nghĩa
lý gì. Chúng ta phải gan dạ đập nát hết những hòn bọt kia đi, mới thấy mình bất
sanh bất diệt. Mới thấy được cái diệu dụng khôn lường của mình và chừng đó mới
có khả năng gánh vác việc lớn, đỡ nâng Phật pháp.
Chánh Văn:
“Thử chi nhất học tối diệu
tối huyền. Đãn biện khẳng tâm, tất bất tương trám”.
Dịch:
Môn thiền này rất diệu rất huyền. Chỉ cần có đủ quyết tâm, mới biết Phật
Tổ không dối.
Giảng:
Có một thiền khách đến hỏi Thiền sư:
- Vì sao nói “Như Lai có mật ngữ mà không có
mật tàng?” Thiền sư liền đưa tay lên, hỏi:
- Hội không?
- Thưa không hội.
- Nếu ông không hội thì Như Lai có mật ngữ,
nếu ông hội thì Như Lai có mật tàng.
Lại nữa,
một hôm ở trên hội Linh Sơn Phật đưa cành hoa sen lên, cả chúng hội đều ngơ
ngác. Chỉ có Ngài Ca Diếp đắc ý chúm chím cười.
Điều Phật
muốn nói, muốn chỉ vượt ra ngoài tầm hiểu biết theo vọng tưởng của mình, nên
chúng ta nghe như bí mật. Vì chúng ta không lãnh hội được nên thấy như Phật có
“mật tàng”. Còn đối với Ngài Ca Diếp thì Như Lai có mật ngữ, song không có mật
tàng. Khi chưa lãnh hội được thì nghi ngờ lời Phật Tổ, khi lãnh hội được rồi
thì hết nghi. Mới thấy môn thiền này rất là diệu huyền. Ai tu thiền cũng phải
cố gắng mà nhận ra “cái chân thật” mới thấy Phật Tổ không dối gạt mình.
Nhất là quý
vị đang nghi ngờ: nếu dẹp hết kiến thức rồi còn gì? Chẳng lẽ tu rồi không biết
gì hết, cứ ngơ ngơ sao? Đừng lo chuyện ấy, chỉ lo trong lòng chưa được trống
không thôi. Chứ khi dứt hết vọng tưởng điên đảo rồi thì: “bên này bên kia ứng
dụng không thiếu”, đừng lo đến đó rồi hết. Có lắm vị ngồi Thiền được yên tĩnh
giây lát, sanh nghi ngại: tới chỗ yên rồi hết sao? Thật ra được yên chốc lát
làm sao có diệu dụng? Chừng nào đi, đứng, nằm, ngồi đều như như, như Ngài Triệu
Châu suốt ngày không có tạp niệm, trừ hai thời cơm cháo là còn phải quán tưởng,
thì chừng ấy mới “pháp tánh châu lưu”. Còn chúng ta thì không yên được nửa
ngày, sáng cạo râu, trưa hớt móng tay, chiều sửa soạn đi dạo… chưa có được 5
phút như như, thì làm thế nào có diệu dụng? Chỉ khi không còn vọng tưởng mới
thấy mình chẳng phải là cái thân bé nhỏ mong manh này mà là cái bất diệt vĩnh
cửu. Đó là chỗ cứu kính của người tu. Đâu chỉ riêng Thiền tông thấy như vậy mà
bên Tịnh độ cũng thế. Trong một buổi tiếp khách của một Thiền sư Nhật Bổn, có
một vị Tăng đến, Thiền sư hỏi:
- Thầy tu pháp môn nào?
- Tôi tu pháp môn Tịnh độ.
- Đức A Di Đà bao nhiêu tuổi?
- Bằng tuổi của tôi.
Câu đáp này
chứng tỏ vị Tăng đó đã nhập được pháp tánh, không còn thấy Phật A Di Đà là một
vị Phật ở cõi xa xôi nào mà chính là tự tánh của mình nên mới nói: “Bằng tuổi
của tôi”. Nghe qua, thấy như ông Tăng này phạm thượng dám so sánh tuổi mình
bằng tuổi Phật, nhưng người thật tu, hiểu thấu đáo rồi mới thấy đó là sự thật.
Sau khi dạy tu Thiền xong Tổ e có người đối
với giáo lý cao siêu như thế không kham lãnh nổi, nên Ngài hạ xuống một nấc,
dạy phương pháp khác.
Chánh Văn:
“Nhược hữu trung lưu chi sĩ,
vị năng đốn siêu, thảư giáo pháp lưu tâm, ôn tầm bối diệp. Tinh sưu nghĩa lý,
truyền xướng phu dương, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”.
Dịch:
Nếu có kẻ bậc trung, chưa thể
vượt qua được (phương tiện). Thì phải, đối với giáo pháp lưu tâm, ôn tầm kinh
luận. Tinh thông nghĩa lý truyền bá mở mang, tiếp dẫn hậu lai, báo ân đức Phật.
Giảng:
Nếu người đốn siêu được thì ngay trong đời
này có thể cứu giúp chúng ta trong ba cõi đền đáp bốn ân. Còn chúng ta không
được như thế thì phải nghiên cứu kinh điển cho tinh thông để đem ra truyền bá,
hầu tiếp dẫn người sau, đáp đền ơn Phật. Như thế cũng là tốt vậy.
Chánh Văn:
“Thời quang diệc bất hư khí,
tất tu dĩ thử phù trì. Trú chỉ uy nghi, tiện thị tăng trung pháp khí”.
Dịch:
Thời giờ chớ nên luống bỏ, phải
dùng giáo pháp để phò trì. Đi đứng oai nghi, mới là pháp khí Tăng bảo.
Giảng:
Nếu chúng ta không phải là người nhất thời
thấu suốt về thiền thì cũng không nên luống bỏ thì giờ, bằng cách nghiên cứu
kinh điển cho thâm sâu để dạy dỗ người sau, giữ gìn nề nếp, đi đứng oai nghi… Như
vậy, cũng đã là mẫu mực cho Tăng chúng và đền đáp ơn Phật rồi.
Chánh Văn:
“Khởi bất kiến ỷ tùng chi
cát, thượng tủng thiên tầm, phụ thác thắng nhân phương năng quảng ích”.
Dịch:
Há chẳng thấy, dây sắn nương
cây tùng mà vượt cao lên ngàn trượng. Nương gá nhân lành thù thắng thì mới được
lợi ích rộng nhiều.
Giảng:
Đoạn này ý nói dây sắn dây bìm nhờ nương
quấn cây tùng mà vượt lên cao ngàn trượng. Cũng vậy, chúng ta là kẻ tầm thường
thì phải nương nhờ kinh luật để tu. Vì sao? Vì kinh giáo ví như chiếc bè để qua
sông, như ngón tay chỉ mặt trăng.
Nương ngón
tay mà thấy mặt trăng, nhân kinh mà ngộ được bản tánh. Dầu cho đời này không tỏ
ngộ được thì cũng chứa nhóm thiện căn, nuôi dưỡng hạt giống Phật.
Đồng thời
nghiên cứu kinh điển mới nắm vững đường lối tu để hướng dẫn cho người khiến cho
mọi người cũng bớt khổ được vui. Thế nên người tu phải khéo léo linh động để được
lợi ích cho mình và cho người.
Chánh Văn:
“Khẩn tu trai giới, mạc man
khuy du. Thế thế sanh sanh, thù diệu nhân quả”.
Dịch:
Phải nên thiết tha tu hành trai
giới cho thanh tịnh, chớ nên khinh dối bỏ qua. (Như thế) đời đời kiếp kiếp
sẽđược nhân quả tốt đẹp.
Giảng:
“Khẩn tu trai giới, mạc man khuy du”. Ở trên Tổ đã
khuyên học kinh, nhưng sợ chúng ta chấp lý bỏ sự, hạnh giải không tương ưng nên
đến đây Ngài dạy phải nghiêm trì giới luật, chớ nên thiếu sót bỏ qua (khuy: thiếu
sót, du: bỏ qua). Giữ giới là sự, học kinh là lý, sự lý phải viên dung. Như chim
có hai cánh thiếu một thì không thể bay được. Như người có hai chân, thiếu một
thì không thể đi được. Thế nên Tổ Ca Diếp trọn đời tu hạnh đầu đà. Ngài Vĩnh
Gia không ăn rau dưới đầu cuốc (vì cuốc đất làm chết trùng kiến). Ngài Khuê
Phong quanh năm không rời đãy lọc nước… Chư Tổ đã ngộ đạo mà đối với giới luật
còn không dám coi thường, huống người nay học hiểu được chút ít lý Thiền đã vội
buông lung phá chấp, đó là bệnh.
“Thế thế sanh sanh, thù diệu nhân quả”. Giữ giới
thì hiện đời tâm được trong sạch, đời sau được báo thân đoan chính trang
nghiêm. Cho đến thân 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp của Phật cũng do nhiều đời giữ
giới mà được thành tựu. Nên nói “đời đời kiếp kiếp nhân quả tốt đẹp”.
Chánh Văn:
“Bất khả đẳng nhàn quá nhật,
ngột ngột độ thời, khả tích quang âm, bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương
tín thí, diệc nãi cô phụ tứ ân. Tích lụy chuyển thâm, tâm trần dịủng, xúc đồ
thành trệ, nhân sở khinh khi”.
Dịch:
Chẳng nên thong thả qua ngày,
ngẩn ngơ hết buổi. Thì giờđáng tiếc sao chẳng cầu tu tiến. (Như thế thật là)
luống hao của tín thí, cũng là cô phụ bốn ân. Tích chứa càng nhiều tâm trần dễ
lấp, gặp việc ngăn bít, bị người chê cười.
Giảng:
“Bất khả đẳng nhàn quá nhựt, ngột ngột độ
thời”. Tổ quở chúng ta không nên lửng lơ thong thả qua ngày, ngây thơ
cho hết tháng. Chữ “ngột ngột” có chỗ dùng để chỉ cho người trong lòng không
còn một chút kiến giải nào tâm nhất như, người này cũng ngáo nhưng không phải
là cái ngơ ngáo của người không hiểu đạo
lý.
Còn ở đây
Tổ dùng chữ “ngột ngột” để chỉ cho người lo ăn chơi theo thế tục, cứ ngơ ngơ để
ngày tháng trôi qua vô ích.
“Khả tích quang âm bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập
phương tín thí, diệc nãi cô phụ tứ ân”. Chúng ta phải biết quý tiếc
thời giờ mà nỗ lực tiến tu. Nếu không thì đã luống tiêu hao của tín thí mà cũng
là cô phụ bốn ân.
“Tích lụy chuyển thâm, tâm trần dịủng, xúc
đồ thành trệ, nhân sở khinh khi”. Tích chứa tiền của càng nhiều thì
tâm dễ bị bụi trần che lấp. Như khi chúng ta không có một xu dính túi thì đâu
có nghĩ gì, nếu có ai cho vài ngàn thì lúc đó nghĩ phải mua gì đây? Tức vọng
tưởng dấy lên. Tiền ít thì vọng tưởng ít, tiền nhiều thì vọng tưởng càng nhiều.
Người có bạc tỷ thì thật khó tu vì phải nghĩ làm sao cho khỏi mất mát, làm sao
để sanh lợi? Tâm lúc nào cũng bất an, tức đã bị bụi trần phủ che. Nên người nào
chứa nhóm càng nhiều thì càng bị chướng ngại, đối với việc Phật pháp không sáng
tỏ được. Tuy có tiền của nhiều, song vẫn bị người khinh vì tu mà đạo lý không
biết gì cả. Đến đây Tổ lại an ủi:
Chánh Văn:
“Cổ vân: Bỉ ký trượng phu ngã
diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất. Nhược bất như thử, đồ tại tri môn,
nhẫm nhiễm nhất sanh, thù vô sở ích”.
Dịch:
Người xưa
nói: Kia trượng phu ta đây cũng thế, chớ tự khinh mình mà lui sụt. Nếu chẳng
như thế, luống ở trong cửa đạo dần dà hết một đời, trọn không có lợi ích.
Giảng:
“Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự
khinh khi thoái khuất”. Trong kinh A Hàm có kể chuyện Ngài La Hầu La,
Ngài đi tu lúc còn bé, nên hơi khỉ. Có lần thấy các vị Tỳ Kheo ngủ, Ngài đến
chọc léc. Các Tỳ Kheo mách lên Phật, Phật quở:
- Sao ông không học theo những vị trưởng lão
đằm thắm nghiêm chỉnh, lại đi trửng giỡn như thế?
La Hầu La thưa:
- Bạch Thế
Tôn, con đâu dám bì với các hàng Trưởng lão.
Phật dạy:
“Kia là trượng phu, mình cũng thế. Cớ sao
lại tự khinh mình, lại có những tánh xấu như vậy?”
Từ đó, câu “ Bỉ ký
Trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất” luôn được
nhắc nhở đến. Chúng ta thường có cái bệnh là tự ti mặc cảm. Nghe nói đến Phật
thì tưởng như Phật ngồi trên mây cao, còn mình thì ở dưới đất. Biết thế nên
Phật đã hạ thấp Ngài xuống để hòa với chúng ta và bảo: “Ta là Phật đã thành,
các ngươi là Phật sẽ thành”. Tức Phật đã nâng chúng ta lên mà chúng ta vẫn
không dám, nên xem chuyện thành Phật quá cao xa, không làm nổi. Tu là tu vậy,
chớ không dám tin là mình sẽ thành Phật. Cứ thầm tưởng như vậy nên thay vì cố
gắng mười phần chỉ ráng năm, sáu phần thôi. Như anh học trò sắp thi Tú Tài mà
lại mang mặc cảm là sẽ rớt, nên đến trường học cầm chừng thôi, bạn bè có rủ đi
chơi liền đi. Từ ý niệm thiếu tự tin dẫn đến bê tha. Nếu anh đinh ninh thế nào
cũng đậu thì sẽ cố học, ai rủ rê cũng không đi chơi, nhờ thế mà trong suốt niên
học siêng năng cần mẫn. Vậy bê tha hay cần mẫn đều do tự tin hay không tự tin.
Hiện nay
đại đa số người tu chúng ta hầu như mất tự tin. Vì nghĩ mình tu không thành
Phật nên thôi thong thả tu, chớ cố gắng làm chi cho nhọc. Có ai rủ đi giải trí
thì đi cho khuây khỏa một chút, chắc cũng không phạm tội gì. Cứ thế từ lỗi nhỏ
dẫn dần đến lỗi lớn, rồi càng ngày càng xa đạo. Gốc là do thiếu tự tin.
Trong kinh Pháp Hoa có phẩm đáng chú ý là
phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát. Bồ Tát Thường Bất Khinh thường làm một việc có vẻ
như đùa, đến đâu gặp ai, Ngài cũng nói: “Tôi không dám khinh các Ngài, vì các
Ngài đều có khả năng thành Phật”. Ngài không tu hành gì hết, chỉ thường nói một
câu ấy thôi, thế mà Phật kết luận rằng: “Thường Bất Khinh Bồ Tát là tiền thân
của ta, nhờ tu hạnh ấy mà bây giờ ta được thành Phật. Còn những người mà ta
gieo hạt giống thời đó, hiện tại đang ở trong hội chúng đây, có người là Bồ
Tát, có người là La Hán”. Như vậy chỉ một câu nói “Tôi không dám khinh các
Ngài, vì các Ngài đều sẽ thành Phật”, mà quan trọng vô cùng. Câu nói này đã
gieo vào lòng người một niềm tin, tin mình có hạt giống Phật. Chủ yếu của kinh
Pháp Hoa là ở phẩm này.
Chỉ vì
chúng ta mất niềm tin, nên đối với quả Phật cảm thấy vô phần, trong khi mỗi
người chúng ta đều có Phật tánh. Mà đã có hạt giống Phật thì quyết định sẽ có
ngày thành Phật. Nên ở trên Tổ đã nói: “Phật giai quyết định khả kỳ” tức quả
Phật chắc chắn sẽ có ngày thành tựu. Phật Tổ cũng là người như chúng ta, nếu
chúng ta đi đúng theo gót chân các Ngài thì chúng ta cũng thành Phật thành Tổ.
Nếu chúng ta chưa ra gì mà tự xưng là Tổ thì đó là ngã mạn. Còn nói: “quyết
định sẽ thành Tổ”, thì đâu phải ngã mạn. Chúng ta nên hiểu rõ như thế để cố
gắng vươn lên.
“Nhược bất như thử đồ tại tri môn, nhẫm
nhiễm nhất sanh, thù vô sở ích”. Nếu không được như vậy thì luống ở
trong dòng họ nhà tu, lơ lửng một đời trọn không có lợi ích. Tới đây Tổ vừa
nhắc nhở vừa quở rầy mà chúng ta đâu đó vẫn y nguyên, mới biết mình nghiệp
chướng thật sâu dầy.
Chánh Văn:
“Phục vọng hưng quyết liệt
chi chí, khai đặc đạt chi hoài. Cử thố khán tha thượng lưu, mạc thiện tùy ư dung
bỉ. Kim sanh tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân. Tức ý vong duyên,
bất dữ chư trần tác đối. Tâm không cảnh tịch chỉ vị cửu trệ bất thông”.
Dịch:
Trông mong (các ông) phát chí
dũng mãnh, mở lòng rộng xa. Việc làm phải noi gương hàng Thượng đức chớ học kẻ
tầm thường. Đời này tự mình quyết đoán,
chẳng do người khác liệu giùm. Dứt ý quên duyên, đừng với các trần làm bạn. Tâm
không cảnh lặng, chỉ vì hằng lâu ngăn trệ chẳng thông.
Giảng:
“Phục vọng hưng quyết liệt chi chí, khai
đặc đạt chi hoài. Cử thố khán tha thượng lưu, mạc thiện tùy ư dung bỉ. Kim sanh
tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhân”. Tổ trông
mong chúng ta hãy khởi ý chí quyết liệt, mở tâm rộng rãi, phàm làm việc gì phải
noi gương các bậc tiền bối (Phật Tổ) chớ duyên theo những kẻ tầm thường. Đời
này phải chính mình lo giải quyết lấy việc sanh tử của chính mình chớ trông cậy
vào người khác. Như thế mới xứng đáng và không uổng phí một đời tu. Tổ đã thúc
đẩy mạnh mẽ để chúng ta một bề thẳng tiến, kế đây Ngài dạy tu:
“Tức ý vong duyên bất dữ chư trần tác đối.
Tâm không cảnh tịch, chỉ vị cửu trệ bất thông”. Dứt ý quên
duyên đừng cùng với trần cảnh làm đối đãi, tức “tâm cảnh không đến nhau”. Chữ
“cảnh tịch” ở đây có nghĩa tâm không duyên theo cảnh. Nếu ở giữa chợ mà tâm
không duyên theo cảnh thì đó là “cảnh tịch”. Còn nếu ở núi non vắng vẻ mà tâm
cứ nhớ đây nhớ kia thì đó là cảnh ồn. Cảnh vắng hay ồn là do tâm duyên hay
không duyên vậy.
Xưa nay,
tâm vốn rỗng rang, trần cảnh vốn lặng lẽ. Chỉ vì quên chân theo vọng lâu ngày
bị các duyên che lấp, mất bản tâm khiến phải lăng xăng trong sáu nẻo. Bây giờ
chỉ cần dừng vọng tưởng là dừng bước luân hồi.
Đến đây
Ngài nhắc:
Chánh Văn:
“Thục lãm tư văn, thời thời
cảnh sách, cưỡng tác chủ tể, mạc tuẫn nhân tình. Nghiệp quả sở khiên, thành nan
đào tỵ. Thanh hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan, nhân quả lịch nhiên, khởi vô
ưu cụ”.
Dịch:
Hãy đọc kỹ văn này, thường tự
nhắc nhở. Cố gắng làm chủ chớ theo tình người.
Nghiệp quả kéo lôi thật khó trốn tránh. Tiếng hòa thì vang thuận; hình
thẳng thì bóng ngay. Nhân quả rõ ràng há không lo sợ.
Giảng:
“Thục lãm tư văn, thời thời cảnh sách,
cưỡng tác chủ tể, mạc tuẫn nhân tình”.
Tổ dạy
chúng ta phải thường đọc lại bản văn này cho thuộc lòng để luôn tự đánh thức
mình. Phải cố gắng tự chủ đừng chạy theo tình người. Tình người là sao? Là nay,
chỗ này thỉnh Thầy đi tụng giùm con một thời kinh. Mai, chỗ nọ thỉnh Thầy đi
cúng giùm con một đám v.v… không đi sợ Phật tử buồn, cứ như vậy xách gói đi
hoài thì làm sao có thì giờ để tu? Cho nên mình phải tự chủ đừng chạy theo tình
người, mới có thể tiến tu được.
“Nghiệp quả sở khiên, thành nan đào tỵ.
Thanh hòa hưởng thuận, hình trực ảnh đoan, nhân quả lịch nhiên, khởi vô ưu cụ”. Một khi
nghiệp quả đã buộc ràng thì khó mà trốn tránh. Gây nhân lành thì được quả tốt,
cũng như tiếng êm ái thì âm vang cũng nhẹ nhàng, hình ngay thì bóng thẳng. Nhân
quả theo nhau rõ ràng như vậy. Nếu đời này tu hành chưa giải thoát được thì
biết chúng ta gây nhân gì phải gặt quả nấy. Thế nên người biết tu phải dè dặt.
Chánh Văn:
“Cố kinh vân, giả sử bách
thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự
thọ”.
Dịch:
Cho nên kinh nói: “Giả sử trăm
nghìn kiếp, nghiệp đã tạo không bao giờ mất. Nhân duyên khi gặp gỡ, quả báo lại
phải chịu.
Giảng:
Đây là Tổ dẫn trong kinh Nhân Quả. Giả sử
chúng ta đã tạo nghiệp, dù trải qua trăm ngàn kiếp, nghiệp đó cũng không mất.
Khi hội đủ duyên thì quả báo sẽ đến và chúng ta phải nhận chịu. Đôi khi chúng
ta tưởng những việc chúng ta đã làm sẽ qua mất theo thời gian, nhưng thật sự nó
không mất mà âm hưởng vẫn còn. Như tiếng nói phát ra chúng ta tưởng là mất,
nhưng thật sự nó vang ra và còn lưu lại đâu đó. Điều này bây giờ khoa học đã
giúp chúng ta thấy rõ. Những hành động
của chúng ta cũng thế. Tuy nhiên, không mất mà mất, mất mà không mất. Giả sử
như khi chúng ta có quyền thế, đối với những người xung quanh lắm lúc ta có
những lời lẽ hay hành động khinh miệt đối với họ. Lúc đó tuy bên ngoài vì sợ uy
lực của ta nên họ không dám buồn trách, nhưng trong lòng họ nhớ mãi. Đến một
ngày nào đó, chúng ta sa cơ thất thế, người kia có uy thế hơn, bấy giờ họ sẽ
trả thù. Chừng ấy mới thấy nhân quả rõ ràng. Là người tu biết rõ lý nhân quả
thì chúng ta phải dè dặt từng hành động, từng lời nói vậy.
Chánh Văn:
“Cố tri tam giới hình phạt
oanh bạn sát nhân. Nỗ lực cần tu mạc không quá nhật”.
Dịch:
Nên biết, ba cõi hình phạt trói
buộc hại người. Gắng sức lo tu chớ luống qua ngày tháng.
Giảng:
Ba cõi là chỗ chúng sanh thọ quả báo, nên
nói: “Ba cõi hình phạt”. Phiền não vọng tưởng là sợi dây trói buộc, là giặc thù
cướp mất huệ mạng (hay như trong nhà Thiền gọi là “gia bảo”) của chúng ta, nên
nói “trói buộc hại người”. Đến đây Tổ kết thúc và nhắc nhở hết sức thiết tha.
Chánh Văn:
“Thâm tri quá hoạn, phương nãi tương khuyến
hành trì. Nguyện bách kiếp thiên sanh, xứ xứ đồng vi pháp lữ, nãi vi minh
viết:”
Dịch:
Biết rõ lỗi lầm nên mới khuyên
nhau tu tập. Nguyện trăm kiếp ngàn đời, chỗ chỗ cùng (nhau) làm bạn pháp, bèn
làm bài minh rằng:
Giảng:
Sở dĩ Tổ khuyên như vậy, vì Ngài đã thấy rõ
lỗi lầm đó nên mới khuyên chúng ta tu tập theo lời Tổ dạy. Ngài nguyện trăm
kiếp ngàn đời nơi nơi chỗ chỗ đồng làm bạn pháp với chúng ta để nhắc chúng ta
cùng tu cùng sớm thành Phật đạo. Và đây cũng là sở nguyện của tất cả người tu
vậy. Để toát yếu lại Ngài làm bài minh:
Chánh Văn:
“Huyễn thân mộng trạch
Không trung vật sắc
Tiền tế vô cùng
Hậu tế ninh khắc?”
Dịch:
Thân huyễn nhà mộng
Vật sắc trong không
Mé trước không cùng
Mé sau đâu biết?
Giảng:
Tổ nhắc chúng ta nên thấy thân này là huyễn
hóa, cõi này như cõi mộng. Tất cả hình ảnh sự vật trước mắt ta chẳng khác nào
hoa đốm giữa hư không. Tất cả đều là huyễn hóa do nhân duyên sanh, mà nhân
duyên thì trùng trùng điệp điệp nên mé trước không cùng, mé sau không thể tính
hết.
Chánh Văn:
“Xuất thử một bỉ
Thăng trầm bì cực
Vị miễn tam luân
Hà thời hưu tức?”.
Dịch:
Thoát đây chìm kia
Lên xuống cực nhọc
Chưa khỏi ba đường
Bao giờ thôi dứt?
Giảng:
Khi chúng ta chưa giác ngộ giải thoát được
thì ra đây vào kia lẩn quẩn trong sáu nẻo. Lang thang trong vòng luân hồi hết
lên lại xuống, từ vô thỉ đến giờ không biết đã bao lần. Nếu chưa thoát khỏi ba
cõi thì biết đến bao giờ sự lên xuống nhọc nhằn kia mới thôi dứt.
Chánh Văn:
“Tham luyến thế gian
Ấm duyên thành chất
Tùng sanh chí lão
Nhất vô sở đắc”.
Dịch:
Tham luyến cõi đời
Ấm duyên thành chất
Từ sanh đến già
Trọn không gì được.
Giảng:
Chúng ta vì tham luyến thế gian này nên mới
có thân, tức hợp năm uẩn lại thành sắc chất. Như vậy có thân đây cũng do gốc từ
luyến ái mà ra. Nhưng từ lúc sanh ra cho đến già nhắm mắt nào có được gì đâu.
Đến tay không thì đi cũng tay không, chỉ có mang theo nghiệp mà thôi. Còn
nghiệp thì sanh tử lại trùng trùng tiếp nối.
Chánh Văn:
“Căn bản vô minh
Nhân tư bị hoặc
Quang âm khả tích
Sát-na bất trắc”.
Dịch:
Căn bản vô minh
Nhân đây mê hoặc
Thời giờđáng tiếc
Khoảnh khắc khó lường.
Giảng:
Cội gốc vô minh, do đây bị mê lầm. Mê lầm
chồng chất mê lầm không biết bao giờ dứt được. Thế nên, chúng ta phải tiếc từ
tấc bóng. Mạng sống con người trong khoảng sát-na không thể lường được. Chúng
ta đang sống đây nhưng có duyên nào đó đưa đến liền ngã ra chết. Thế là đã qua
đời khác rồi. Nên nếu:
Chánh Văn:
“Kim sanh không quá
Lai thế trất tắc
Tùng mê chí mê
Giai nhân lục tặc”.
Dịch:
Đời nay luống qua
Đời sau ngăn lấp
Từ mê đến mê
Đều do sáu giặc.
Giảng:
Nếu đời này luống qua thì đời sau bít lấp.
Từ mê đến mê cũng đều do sáu tên giặc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mà chúng ta
không thoát khỏi sáu trần.
Chánh Văn:
“Lục đạo vãng hoàn
Tam giới bồ bặc
Tảo phỏng minh sư
Thân cận cao đức”.
Dịch:
Qua lại sáu đường
Lăn lóc ba cõi
Sớm tìm minh sư
Thân gần cao đức.
Giảng:
Cứ mãi qua lại trong sáu đường, lăn lóc
trong ba cõi không dứt, vì vậy nên phải hỏi các bậc minh sư và gần gũi các vị
cao đức.
Chánh Văn:
“Quyết trạch thân tâm
Khử kỳ kinh cức
Thế tự phù hư
Chúng duyên khởi bức?”
Dịch:
Gạn lọc thân tâm
Bỏđiều gai góc
Đời tự giả hư
Duyên nào ép ngặt?
Giảng:
Chúng ta thường phải gạn lọc thân tâm, bỏ đi
những thứ gai góc, tức vọng tưởng, để cho cây Bồ Đề được tăng trưởng. Cuộc đời
tự nó là hư giả, do các duyên tụ hội. Thấy rõ như vậy thì nó làm gì bức bách được
mình.
Chánh Văn:
“Nghiên cùng pháp lý
Dĩ ngộ vi tắc
Tâm cảnh câu quyên
Mạc ký mạc ức”.
Dịch:
Xét tột pháp lý
Chứng ngộ mới thôi
Tâm cảnh đều quên
Chẳng ghi chẳng nhớ.
Giảng:
Chúng ta phải nghiên cứu đạo lý cho cùng tột
để đi đến chỗ giải thoát mới thôi. Tâm cảnh đều dẹp hết, chớ ghi chớ nhớ.
Chánh Văn:
“Lục căn di nhiên
Hành trú tịch mặc
Nhứt tâm bất sanh
Vạn pháp câu tức”.
Dịch:
Sáu căn an nhiên
Đứng đi lặng lẽ
Một tâm chẳng sanh
Muôn pháp đều dứt.
Giảng:
Nếu sáu căn an nhiên, không chạy theo sáu
trần thì đi đứng nằm ngồi đều lặng lẽ. Khi một tâm không dấy khởi thì muôn pháp
đều dứt đoạn.
Tổ dùng bài minh này để cô đọng lại toàn văn
Cảnh Sách trên. Ngài nhắc nhở tới lui chỉ vì muốn chúng ta trở thành người xuất
gia xứng đáng, để không phụ ơn cha mẹ, Thầy Tổ, đàn-na thí chủ… và nhất là để
làm lợi ích cho Phật pháp chúng sanh sau này vậy./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét